Nghị định số 303/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung Điều 3 Nghị định số 32/2024/NĐ-CP về ngành, nghề, tổ chức, cá nhân đầu tư trong cụm công nghiệp; loại hình cụm công nghiệp được khuyến khích phát triển theo hướng tách riêng từng khoản về "Ngành nghề được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp"; về "Tổ chức, cá nhân được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp"; về "các loại hình cụm công nghiệp" cho rõ, đầy đủ hơn. Trong đó, bổ sung "các doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo" được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp để phù hợp với đối tượng quy định tại các Nghị quyết của Bộ Chính trị, Quốc hội, Chính phủ về phát triển kinh tế tư nhân.
Lần đầu tiên quy định 4 loại hình cụm công nghiệp
mới
1. Sửa đổi, bổ sung một số khoản của Điều 2 như sau:
a) Sửa đổi khoản 1 và khoản 2 như sau:
“1. là nơi sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thực hiện các dịch vụ
cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định,
không có dân cư sinh sống, có quy mô diện tích không vượt quá 75 ha và không dưới
05 ha.
2. Cụm công nghiệp làng nghề là cụm công nghiệp có tối thiểu 60% diện tích
đất công nghiệp dành cho việc di dời, mở rộng sản xuất kinh doanh của các tổ chức,
cá nhân trong làng nghề, có nghề truyền thống được công nhận.”;
b) Bổ sung các khoản 2a, 2b, 2c và 2d sau khoản 2 như sau:
“2a. Cụm công nghiệp chuyên ngành là cụm công nghiệp có tối
thiểu 60% diện tích đất công nghiệp dành cho các dự án đầu tư có cùng ngành,
nghề.
2b. Cụm công nghiệp hỗ trợ là cụm công nghiệp có tối thiểu
60% diện tích đất công nghiệp dành cho các dự án đầu tư sản xuất sản phẩm công
nghiệp hỗ trợ theo quy định của pháp luật về phát triển công nghiệp hỗ trợ.
2c. Cụm công nghiệp công nghệ cao là cụm công nghiệp có tối
thiểu 30% diện tích đất công nghiệp dành cho các dự án nghiên cứu, sản xuất và ứng
dụng công nghệ cao theo quy định của pháp luật về công nghệ cao.
2d. Cụm công nghiệp sinh thái là cụm công nghiệp hướng đến mục
tiêu phát triển kinh tế bền vững, tuần hoàn, giảm thiểu tác động môi trường,
trong đó có các tổ chức, cá nhân trong cụm công nghiệp tham gia vào hoạt động sản
xuất sạch hơn và sử dụng hiệu quả tài nguyên; có sự liên kết, hợp tác trong sản
xuất để tối ưu hóa việc sử dụng hoặc tái sử dụng nguyên liệu, vật liệu, nước,
năng lượng, chất thải, phế liệu và yếu tố khác trong quá trình sản xuất, kinh
doanh.”;
c) Sửa đổi khoản 4 như sau:
“4. Hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật chung của cụm công nghiệp bao gồm
hệ thống các công trình giao thông, cấp nước, thoát nước, thu gom và xử lý nước
thải, chất thải rắn, phòng cháy, chữa cháy, cấp điện, chiếu sáng công cộng,
thông tin liên lạc, cây xanh, mặt nước sử dụng chung và các công trình hạ tầng
kỹ thuật khác phục vụ hoạt động chung của cụm công nghiệp.”.
Bổ sung doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp
khởi nghiệp sáng tạo được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp
Điều 3. Ngành, nghề, tổ chức, cá nhân đầu tư trong cụm công nghiệp; loại
hình cụm công nghiệp được khuyến khích phát triển
1. Ngành, nghề được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp:
- Công nghiệp chế biến, chế tạo phục vụ nông nghiệp; công nghiệp cơ khí;
công nghiệp hỗ trợ; công nghiệp dệt may, da giày;
- Công nghiệp công nghệ thông tin và viễn thông, công nghiệp điện tử; công
nghiệp năng lượng tái tạo; công nghiệp công nghệ số, tự động hóa, thiết bị cao
cấp, vật liệu mới, công nghệ sinh học;
- Các ngành, nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tại địa phương cần được
bảo tồn và phát triển; công nghiệp sản xuất, chế tạo thiết bị và sản phẩm phục
vụ bảo vệ, phát triển và phục hồi nguồn nước; công nghiệp môi trường, xử lý,
tái chế hoặc tái sử dụng chất thải; công nghiệp lưỡng dụng; dịch vụ kho bãi,
đóng gói bao bì, vận chuyển hàng hóa, sửa chữa, bảo dưỡng máy móc, thiết bị
công nghiệp và dịch vụ khác phục vụ trực tiếp cho sản xuất công nghiệp, tiểu thủ
công nghiệp của địa phương với tổng diện tích không quá 10% diện tích cụm công
nghiệp;
- Các ngành, nghề công nghiệp khác có công nghệ cao, công nghệ sạch; các
ngành công nghiệp sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; các ngành công nghiệp
mang lại giá trị gia tăng cao, phát triển bền vững.
2. Tổ chức, cá nhân được khuyến khích đầu tư trong cụm công nghiệp:
a) Doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, tổ hợp tác, cơ sở sản xuất hộ gia
đình và cá nhân trong làng nghề hoặc có nghề truyền thống, nghệ nhân nhân dân,
nghệ nhân ưu tú trong lĩnh vực nghề thủ công mỹ nghệ;
b) Các doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp sản xuất sản phẩm công nghệ
cao, doanh nghiệp công nghệ chiến lược, doanh nghiệp khoa học và công nghệ,
doanh nghiệp công nghệ số, doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo;
c) Các cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gây ô nhiễm môi trường
hoặc có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường tại các làng nghề, khu dân cư được khuyến
khích di dời vào cụm công nghiệp; cơ sở công nghiệp động viên.
3. Nhà nước có chính sách ưu tiên, khuyến khích phát triển các loại hình cụm
công nghiệp gồm: Cụm công nghiệp làng nghề, cụm công nghiệp chuyên ngành, cụm
công nghiệp hỗ trợ, cụm công nghiệp công nghệ cao, cụm công nghiệp sinh thái và
loại hình cụm công nghiệp theo hướng thông minh, hiệu quả, bền vững khác.
4. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định cụ thể ngành, nghề; đối tượng tổ chức,
cá nhân đầu tư sản xuất, kinh doanh trong cụm công nghiệp; loại hình cụm công
nghiệp (nếu có) phù hợp phương hướng phát triển cụm công nghiệp thuộc quy hoạch
tỉnh, định hướng phát triển kinh tế - xã hội, điều kiện thực tế của địa phương
và thể hiện tại Quyết định thành lập, mở rộng cụm công nghiệp.
Sửa đổi, bổ sung điều kiện thành lập, mở rộng cụm
công nghiệp
Về điều kiện thành lập cụm công nghiệp: Để phù hợp với mô hình chính quyền
địa phương 2 cấp, để việc thành lập, đầu tư xây dựng cụm công nghiệp khả thi, tạo
điều kiện quỹ đất để phát triển kinh tế tư nhân, tăng trưởng kinh tế của các địa
phương và đảm bảo sử dụng đất hiệu quả, Nghị định số 303/2026/NĐ-CP đã sửa đổi,
bổ sung điều kiện thành lập cụm công nghiệp tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị định
số 32/2024/NĐ-CP theo hướng: "Trong trường hợp địa bàn cấp xã đã thành lập
cụm công nghiệp thì tỷ lệ lấp đầy trung bình của các cụm công nghiệp đạt trên
50% hoặc tổng quỹ đất công nghiệp chưa cho thuê của các cụm công nghiệp không
vượt quá 50 ha".
Nghị định số 303/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi điều kiện mở rộng cụm công nghiệp
(tại điểm c và điểm d khoản 2 Điều 8 Nghị định số 32/2024/NĐ-CP) theo hướng phải
đạt tỷ lệ lấp đầy ít nhất 50% hoặc nhu cầu thuê đất công nghiệp trong cụm công
nghiệp vượt quá diện tích đất công nghiệp hiện có của cụm công nghiệp.
Đồng thời, hoàn thành xây dựng, đưa vào sử dụng các công trình hạ tầng kỹ
thuật dùng chung thiết yếu của cụm công nghiệp (gồm: Đường giao thông nội bộ, cấp
nước, thu gom và xử lý nước thải) theo quy hoạch chi tiết đã được phê duyệt. Điều
kiện này không áp dụng đối với cụm công nghiệp hình thành trước Quyết định số
105/2009/QĐ-TTg ngày 19/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ.
Bộ Công Thương cho biết, qua tổng hợp, theo dõi cụm công nghiệp thời gian
qua cho thấy việc đầu tư hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật tại các cụm công nghiệp do
đơn vị nhà nước đầu tư, quản lý (chủ yếu là các cụm công nghiệp hình thành trước
Quyết định số 105/2009/QĐ-TTg) chậm do nguồn lực ngân sách địa phương hạn chế,
không có khả năng bố trí kinh phí để xây dựng đồng bộ hạ tầng kỹ thuật, dẫn đến
tình trạng đầu tư chắp vá, nhiều hạng mục bị xuống cấp hoặc chưa được đầu tư, đặc
biệt là công trình hạ tầng bảo vệ môi trường.
Do vậy, các điều kiện sửa đổi nêu trên nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho các
địa phương trong việc thu hút doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ chức kinh tế làm chủ
đầu tư phần mở rộng cụm công nghiệp và quản lý phần cụm công nghiệp đã thành lập
(nếu có), nhanh chóng đầu tư, hoàn thiện hạ tầng, thu hút lấp đầy, phát huy hiệu
quả các cụm công nghiệp do đơn vị nhà nước đầu tư, quản lý trước đây.
Đặc biệt, Nghị định số 303/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung quy định về hồ sơ,
trình tự thủ tục thành lập, mở rộng cụm công nghiệp (Điều 9, Điều 10) với tư
duy chuyển từ cơ chế "tiền kiểm" sang "hậu kiểm" (rà soát,
loại bỏ một số hồ sơ, tài liệu đề nghị thành lập, mở rộng cụm công nghiệp không
cần thiết) và điều chỉnh giảm thời gian tiếp nhận, xử lý thủ tục hành chính về
cụm công nghiệp.
Nghị định sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 15/9/2026.
TCCT
