Mục tiêu tổng quát của Đề án là đến năm 2030, xây dựng Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trở thành ngân hàng trung ương hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, dựa trên nền tảng quản trị tiên tiến, dữ liệu số; có năng lực hoạch định, điều hành chính sách, phân tích, dự báo, cảnh báo sớm và ra quyết định kịp thời dựa trên dữ liệu, theo thông lệ quốc tế phù hợp với điều kiện Việt Nam; chủ động thích ứng với các xu hướng chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và hội nhập quốc tế; có đầy đủ vị thế pháp lý và trách nhiệm giải trình để thực hiện mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, góp phần đạt được mục tiêu tăng trưởng “2 con số”, bảo đảm an toàn, ổn định của hệ thống tiền tệ, ngân hàng.
Hệ thống các tổ chức tín dụng hoạt động lành mạnh, chất
lượng, hiệu quả, công khai, minh bạch; cấu trúc đa dạng về sở hữu, quy mô, loại
hình; hoạt động dựa trên nền tảng công nghệ hiện đại, quản trị ngân hàng tiên
tiến, đáp ứng các chuẩn mực về an toàn hoạt động theo quy định của pháp luật và
tiệm cận với thông lệ quốc tế.
Đến năm 2030, doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ
và vừa, được tiếp cận nguồn vốn thuận lợi, kịp thời và phù hợp với nhu cầu phát
triển sản xuất, kinh doanh, mức độ sẵn sàng và đặc thù từng loại hình, ngành
nghề và quy mô doanh nghiệp.
Đến năm 2030, xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém theo
hướng: xây dựng, phê duyệt và tổ chức triển khai các phương án cơ cấu lại/phương
án xử lý tổ chức tín dụng yếu kém phù hợp quy định pháp luật và chỉ đạo của cấp
có thẩm quyền, không để xảy ra đổ vỡ và mất an toàn hoạt động ngân hàng ngoài tầm
kiểm soát của Nhà nước.
Đề án sẽ triển khai 4 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu
gồm: 1- Nhóm nhiệm vụ, giải pháp chung; 2- Nhóm nhiệm vụ, giải pháp hiện đại
hóa hệ thống ngân hàng; 3- Nhóm nhiệm vụ, giải pháp xử lý các tổ chức tín dụng
yếu kém; 4- Nhóm nhiệm vụ, giải pháp tăng cường khả năng tiếp cận vốn cho doanh
nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Hiện đại hóa hệ thống ngân hàng
Về hiện đại hóa hoạt động điều hành chính sách tiền tệ,
ngoại hối, Đề án sẽ triển khai đổi mới khuôn khổ chính sách tiền tệ theo hướng
khuôn khổ chính sách tiền tệ hướng đến mục tiêu kiểm soát lạm phát, ổn định giá
trị đồng tiền, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế bền vững. Tăng tính độc lập của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trong điều
hành chính sách tiền tệ; điều hành chính sách tiền tệ chuyển dần từ điều hành
theo khối lượng sang chủ yếu điều hành theo giá; sử dụng công cụ gián tiếp; tiếp
tục bám sát diễn biến kinh tế, thị trường tài chính, tiền tệ trong và ngoài nước
để điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với
chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác.
Đổi mới khuôn khổ quản lý ngoại hối theo hướng tiếp tục
thực hiện chế độ tỷ giá thả nổi có quản lý, điều hành tỷ giá linh hoạt, hấp thu
các cú sốc, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát; tiếp tục thực
hiện các biện pháp tăng tính lành mạnh, hiệu quả trong hoạt động của thị trường
ngoại tệ; quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước đảm bảo mục tiêu an toàn, thanh khoản
và sinh lời. Từng bước đổi mới công tác quản lý dự trữ ngoại hối Nhà nước phù hợp
với quy mô dự trữ ngoại hối nhà nước trong từng thời kỳ, thông lệ quốc tế và điều
kiện thực tiễn của Việt Nam.
Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện các mô hình dự báo
kinh tế, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu phục vụ điều hành chính sách tiền
tệ và hoạt động ngân hàng; từng bước ứng dụng các công cụ phân tích hiện đại để
nâng cao độ chính xác và kịp thời của công tác dự báo.
Bên cạnh đó, hiện đại hóa các hệ thống thanh toán, đổi
mới công tác quản lý, giám sát các hệ thống thanh toán. Cụ thể, xây dựng, phát
triển, quản lý, vận hành Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng theo hướng
chuyên nghiệp, hiện đại và Hệ thống chuyển mạch tài chính và bù trừ điện tử
theo Chiến lược phát triển các hệ thống thanh toán Việt Nam đến năm 2030.
Hiện đại hóa hạ tầng thanh toán quốc gia theo hướng tập
trung, thống nhất, an toàn theo tiêu chuẩn quốc tế và chuẩn hóa yêu cầu kết nối,
đảm bảo kết nối liên thông, xử lý xuyên suốt, liền mạch.
Tăng cường ứng dụng công nghệ dữ liệu lớn, trí tuệ
nhân tạo, điện toán đám mây, giao diện lập trình ứng dụng mở và các công nghệ số
tiên tiến trong quản trị, giám sát hoạt động thanh toán, nhận diện và phòng, chống
gian lận, bảo đảm an ninh, an toàn hệ thống thanh toán. Trong đó, giai đoạn
2026 - 2027, tiếp tục hoàn thiện hệ sinh thái thanh toán số, tăng cường kết nối,
liên thông giữa hệ thống ngân hàng với các ngành, lĩnh vực như thuế, hải quan,
y tế, giáo dục, giao thông, an sinh xã hội, dịch vụ công và thương mại điện tử;
triển khai mở rộng các kết nối thanh toán bán lẻ song phương xuyên biên giới
qua mã QR, thúc đẩy hội nhập tài chính quốc tế.
Hiện đại hóa hoạt động của các tổ chức tín dụng, trong
đó, nghiên cứu, phát triển các dịch vụ, hình thức thanh toán mới, hiện đại.
Thúc đẩy đổi mới sáng tạo, ứng dụng thành tựu Cách mạng công nghiệp lần thứ tư
trong hoạt động thanh toán; nghiên cứu, áp dụng các công nghệ, phương thức
thanh toán hiện đại như mã phản hồi nhanh (QR code), mã hóa thông tin thẻ
(tokenization), thanh toán di động (mobile payment), thanh toán phi tiếp xúc
(contactless).
Phát triển các dịch vụ thanh toán bán lẻ, như: dịch vụ
thanh toán thẻ; phát triển, sắp xếp, hợp lý hóa, nâng cao chất lượng, hiệu quả
mạng lưới chấp nhận thẻ. Phát triển thanh toán điện tử phục vụ thương mại điện
tử; nghiên cứu triển khai hệ thống thanh toán đảm bảo thương mại điện tử để
cung cấp nền tảng thanh toán tiện lợi, an toàn.
Nghiên cứu, triển khai, phát triển một số phương tiện,
hình thức, mô hình thanh toán mới, hiện đại, dễ sử dụng, phù hợp cho khu vực
nông thôn, vùng sâu, vùng xa, gắn với việc triển khai Chiến lược tài chính toàn
diện quốc gia tại Việt Nam.
Triển khai đồng bộ các giải pháp về xử lý các Quỹ tín
dụng nhân dân yếu kém
Xử lý các tổ chức tín dụng yếu kém (bao gồm: các ngân
hàng; các tổ chức tín dụng phi ngân hàng và các quỹ tín dụng nhân dân); trong
đó tập trung: Phê duyệt phương án cơ cấu lại cụ thể của từng tổ chức tín dụng
theo quy định pháp luật; giám sát việc thực hiện các phương án, xử lý theo thẩm
quyền/báo cáo cấp có thẩm quyền xử lý các khó khăn, vướng mắc trong quá trình
triển khai Phương án; xem xét, quyết định việc sửa đổi, bổ sung phương án cơ cấu
lại (nếu cần thiết) trên cơ sở đề xuất của tổ chức tín dụng theo quy định của
pháp luật và kết quả thực hiện phương án cơ cấu lại theo lộ trình đề ra.
Triển khai đồng bộ các giải pháp về xử lý các Quỹ tín
dụng nhân dân yếu kém tại Đề án “Cơ cấu lại tổng thể hệ thống quỹ tín dụng nhân
dân và Ngân hàng Hợp tác xã Việt Nam giai đoạn 2026 - 2030, định hướng đến năm
2045”.
Tăng cường hiệu quả, hiệu lực công tác thanh tra, kiểm
tra, giám sát hoạt động của các tổ chức tín dụng và phòng, chống rửa tiền; tăng
cường cảnh báo sớm. Chủ động phối hợp với các cơ quan chức năng đánh giá, nhận
diện, cảnh báo, có phương án chủ động khắc phục, xử lý nghiêm các sai phạm
trong hoạt động ngân hàng, đặc biệt là về sở hữu, cấp tín dụng, quản lý vốn
vay, chấp hành các quy định về an toàn hoạt động, không để tích tụ thành sai phạm
lớn, tác động lan truyền, ảnh hưởng đến an toàn hệ thống.
Phối hợp với các bộ, ngành, cơ quan tư pháp, chính quyền
địa phương trong việc tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, đặc biệt
là các vấn đề liên quan đến thu hồi, xử lý nợ xấu, xử lý tài sản bảo đảm, kịp
thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc về pháp lý, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phục
hồi sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng, phát triển kinh tế.
Ngoài các giải pháp trực tiếp nêu trên, Đề án cũng triển
khai các giải pháp hỗ trợ. Đối với Ngân hàng Nhà nước Việt Nam: Theo dõi, giám
sát các tổ chức tín dụng, đặc biệt là đối với các tổ chức tín dụng có mức độ tập
trung tín dụng cao hoặc có tốc độ tăng trưởng tín dụng cao, gia tăng nhanh, tỷ
lệ nợ xấu cao, dư nợ cấp tín dụng trong những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro có xu hướng
gia tăng nhanh, chiếm tỷ trọng lớn... để phát hiện các rủi ro tiềm ẩn, từ đó có
các biện pháp cảnh báo, chấn chỉnh, xử lý kịp thời, hạn chế rủi ro tập trung
tín dụng theo quy định.
Tăng cường phối hợp giữa công tác giám sát và công tác
thanh tra nhằm kịp thời xử lý các tồn tại, hạn chế, phát hiện, cảnh báo sớm các
rủi ro tiềm ẩn; tham mưu các biện pháp phù hợp nhằm kiểm soát rủi ro và bảo đảm
an toàn hệ thống các tổ chức tín dụng.
Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tập trung nâng cao năng lực
quản trị, quản trị rủi ro, kiểm soát nội bộ, tài chính, ý thức chấp hành nghiêm
quy định pháp luật, kỷ cương, kỷ luật trong hoạt động ngân hàng...; tuân thủ
các giới hạn an toàn, chất lượng tín dụng, kiểm soát nội bộ, các giao dịch với
cổ đông, người có liên quan.
Theo dõi, yêu cầu các tổ chức tín dụng cổ phần có cổ
đông sở hữu cổ phần chưa bảo đảm quy định tiếp tục rà soát để thực hiện nghiêm
túc các quy định tại Luật Các tổ chức tín dụng và các văn bản có liên quan đảm
bảo tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật.
Đối với các tổ chức tín dụng: Tăng cường kiểm tra, kiểm
soát, kiểm toán nội bộ đối với hoạt động cấp tín dụng, chất lượng tín dụng, mức
độ tập trung tín dụng, khách hàng, nhóm khách hàng liên quan, cấp tín dụng các
lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao, đầu tư trái phiếu doanh nghiệp; lưu ý nợ xấu
cao/tăng nhanh, dư nợ tín dụng tập trung lĩnh vực bất động sản, tăng mạnh để đầu
tư, kinh doanh chứng khoán; nâng cao chất lượng thẩm định tín dụng, tăng cường
công tác kiểm tra sử dụng vốn vay, đặc biệt là đối với việc cấp tín dụng thuộc
lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro để phát hiện sớm các rủi ro nhằm đảm bảo kiểm soát chất
lượng tín dụng cũng như kiểm soát, hạn chế nợ nhóm 2, nợ xấu phát sinh; tập
trung tăng cường đẩy mạnh các biện pháp thu hồi, xử lý nợ xấu của ngân hàng.
Rà soát các khoản lãi dự thu lớn, số ngày dự thu dài,
tăng mạnh, thoái các khoản lãi dự thu không đúng quy định (nếu có), đảm bảo
tuân thủ quy định, lợi nhuận phản ánh đúng thực trạng hoạt động kinh doanh.
Tăng cường năng lực tài chính và khả năng chống chịu;
thực hiện đầy đủ, kịp thời các quy định về phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi
ro, định giá, quản lý và xử lý tài sản bảo đảm, bảo đảm phản ánh trung thực chất
lượng tín dụng và chủ động nhận diện, ghi nhận rủi ro. Đẩy mạnh, đa dạng hóa
các biện pháp thu hồi, xử lý nợ xấu, tài sản bảo đảm và các khoản đầu tư kém hiệu
quả, nâng cao khả năng thu hồi giá trị tài sản, cải thiện dòng tiền và tỷ lệ
bao phủ nợ xấu; tăng cường phối hợp với các cơ quan có liên quan để tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc, nâng cao hiệu quả xử lý nợ xấu.
Chấm dứt tình trạng cho vay tập trung vào một số doanh
nghiệp, nhóm khách hàng lớn, dự án thuộc hệ sinh thái hoặc sân sau của tập đoàn
có thể gây ra các rủi ro, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn và lành mạnh của tổ chức
tín dụng.
Thường xuyên rà soát, theo dõi chặt chẽ tình hình, biến
động sở hữu cổ phần, hoạt động cấp tín dụng đối với cổ đông/lãnh đạo và người
có liên quan, nhóm cổ đông cần quan tâm (nếu có) nhằm phát hiện sớm những dấu
hiệu rủi ro, hành vi vi phạm pháp luật về sở hữu cổ phần và các tồn tại rủi ro
trong hoạt động có thể ảnh hưởng đến an toàn hoạt động của tổ chức tín dụng;
tăng cường, chủ động phối hợp chặt chẽ với các cổ đông trong quá trình thoái vốn,
đặc biệt cổ đông là Tập đoàn, Tổng công ty, doanh nghiệp nhà nước và người có
liên quan có sở hữu cổ phần vượt giới hạn đảm bảo tuân thủ các quy định của
pháp luật.
Tăng cường khả năng tiếp cận vốn tín dụng cho doanh
nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa
Tiếp tục rà soát, hoàn thiện khung khổ pháp lý về hoạt
động tín dụng, ngân hàng, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức tín dụng
trong việc cấp tín dụng cho doanh nghiệp, trong đó có doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Hoàn thiện cơ chế chính sách về bao thanh toán để tạo
điều kiện cho hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân
hàng nước ngoài phát triển nhằm mở rộng khả năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp
nhỏ và vừa, qua đó giúp doanh nghiệp cải thiện dòng tiền, giảm phụ thuộc vào
tài sản bảo đảm và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tiếp tục triển khai mạnh
mẽ các giải pháp tại Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 về phát
triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06 tháng 01 năm 2026 về
phát triển kinh tế nhà nước của Bộ Chính trị; tập trung cải tiến quy định nội bộ,
cho vay khách hàng dựa trên phương án sản xuất kinh doanh, phương án mở rộng thị
trường đầu ra; cho vay theo chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng; cho vay dựa trên dữ
liệu thanh toán, dòng tiền; cho vay dựa trên các loại hình tài sản bảo đảm phù
hợp với quy định của pháp luật.
Chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng tín dụng an
toàn, hiệu quả, đáp ứng kịp thời nhu cầu vốn phục vụ sản xuất, kinh doanh của
doanh nghiệp; hướng tín dụng vào các lĩnh vực sản xuất kinh doanh, lĩnh vực ưu
tiên và các động lực tăng trưởng kinh tế theo chủ trương của Chính phủ; phát
triển đa dạng sản phẩm tín dụng ngân hàng phù hợp từng loại hình, nhu cầu sản
xuất kinh doanh của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa; tăng cường ứng
dụng công nghệ, chuyển đổi số trong hoạt động cấp tín dụng, đơn giản hóa thủ tục
hành chính, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ
và vừa tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng.
Xây dựng, triển khai hiệu quả các biện pháp nhằm thu
hút, mở rộng các thành viên trên địa bàn hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân
bao gồm người dân, hợp tác xã, doanh nghiệp nhỏ, doanh nghiệp siêu nhỏ,... cư
trú, đóng trụ sở trên địa bàn hoạt động của quỹ tín dụng nhân dân, nhằm tăng khả
năng tiếp cận vốn cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh.
Triển khai chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp
dưới nhiều hình thức, quy mô phù hợp nhằm nắm bắt, tổng hợp, xử lý, tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc trong tiếp cận tín dụng cho các doanh nghiệp, đặc biệt là doanh
nghiệp nhỏ và vừa.
Theo BCP
