Thị trường tã bỉm dự kiến tăng vọt lên 19,9 tỷ đô la vào năm 2035; tã quần
chiếm 56% vào năm 2035, vượt xa tốc độ tăng trưởng chung của toàn ngành.
Thị trường tã trẻ em khu vực châu Á - Thái Bình Dương đạt 11,3 tỷ USD vào
năm 2025 và đang hướng tới mục tiêu 19,9 tỷ USD vào năm 2035. Doanh thu toàn
khu vực sẽ đạt 12,1 tỷ USD vào năm 2026, tăng trưởng với tốc độ kép hàng năm là
5,9% trong vòng mười năm.
Tập đoàn Unicharm dẫn đầu ngành khu vực với hơn 21% thị phần vào năm 2025.
Cùng với Procter & Gamble, Hengan International Group, Kao Corporation và
Kimberly-Clark Corporation, năm tập đoàn hàng đầu này kiểm soát 58% tổng doanh
thu tã bỉm trên toàn khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Chuyển sang sử dụng quần dài và
các kênh kỹ thuật số
Tã dán chiếm 52% doanh thu năm 2025, chủ yếu nhờ nhu cầu dành cho trẻ sơ sinh và các dòng sản phẩm cao cấp như Pampers Premium Care và Huggies Platinum. Tã quần chiếm 48% còn lại. Nhu cầu ngày càng tăng đối với các loại tã dành cho trẻ sơ sinh năng động sẽ đẩy thị phần tã quần lên 56% vào năm 2035, với tốc độ tăng trưởng hàng năm là 7,2%.

Các cửa hàng trực tuyến chiếm 44,9% tổng doanh thu khu vực vào năm 2025.
Doanh số bán tã bỉm thông qua các nền tảng trực tuyến đang tăng trưởng 7,5% mỗi
năm, dẫn đầu là các đơn đặt hàng định kỳ trên Tmall, JD.com, Flipkart, Lazada và Shopee. Tính minh bạch giá cả
cao trên các sàn thương mại điện tử này đang buộc các chủ thương hiệu phải dựa
vào các chương trình khuyến mãi trọn gói và mô hình đăng ký thay vì mức giá bán
lẻ thông thường.
Phân bổ khối lượng giữa Đông và
Nam Á
Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất về doanh thu, trong khi Ấn Độ đang mở
rộng nhanh nhất. Các thị trường đô thị phát triển ở Nhật Bản, Hàn Quốc và các
thành phố hạng nhất của Trung Quốc đánh giá cao các linh kiện có thông số kỹ
thuật cao, bao gồm lõi polymer siêu thấm nhiều lớp, lớp lót thoáng khí và chỉ
báo độ ẩm. Các nhà cung cấp tại các thị trường này phải đối mặt với chính sách
môi trường nghiêm ngặt hơn, bao gồm các quy định về trách nhiệm của nhà sản xuất
ở Hàn Quốc và hướng dẫn về tuần hoàn tài nguyên của Nhật Bản nhằm vào chất thải
nhựa không dệt.
Ngược lại, tăng trưởng doanh thu ở Ấn Độ, Indonesia, Việt Nam và
Philippines phụ thuộc vào việc chuyển đổi các hộ gia đình từ sử dụng sản phẩm vải
sang sản phẩm dùng một lần. Quá trình chuyển đổi này gặp phải ngưỡng thu nhập ở
những khu vực có thu nhập hộ gia đình dưới 5 USD/ngày. Sự biến động về nguồn
cung nguyên liệu polypropylene không dệt và dây chun khiến việc tăng giá các sản
phẩm đóng gói đại trà trở nên khó khăn.
Các nhà sản xuất trong khu vực đang vận hành các dây chuyền sản xuất riêng
biệt để cân bằng nhu cầu thị trường khác nhau này. Chiến lược này tách biệt quá
trình chuyển đổi tốc độ cao, tối ưu chi phí cho mạng lưới phân phối Đông Nam Á
với các dây chuyền sản xuất cao cấp, tinh gọn dành cho các kênh thương mại điện
tử Đông Á.
Hiệu quả kinh tế sản xuất hiện phụ thuộc vào tốc độ các nhà sản xuất điều
chỉnh công thức nguyên liệu trước khi các quy định về bao bì đô thị và chất thải
vải không dệt có hiệu lực tại các mạng lưới bán lẻ Đông Bắc Á.
Ttbl
