Trong bối cảnh nhu cầu điện tăng mạnh cùng những biến động khó lường của thị trường năng lượng toàn cầu, việc bảo đảm cung ứng điện mùa khô năm 2026 đang trở thành nhiệm vụ trọng tâm của ngành điện và cơ quan quản lý.
Từ điều hành hệ thống, bổ sung nguồn điện, thúc đẩy tiết
kiệm điện đến phát triển pin lưu trữ năng lượng (BESS), hàng loạt giải pháp
đang được triển khai nhằm ứng phó với nguy cơ thiếu điện trong các thời điểm cực
đoan.

Hàng loạt giải pháp đang được triển khai nhằm ứng phó
với nguy cơ thiếu điện trong các thời điểm cực đoan.
Theo Phó Trưởng ban Kinh doanh và Mua bán điện Tập
đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) Nguyễn Mạnh Quang, ngay từ những tháng đầu năm
2026, hệ thống điện quốc gia đã phải chịu áp lực “kép” khi phụ tải tăng cao đột
biến, trong khi các yếu tố bất ổn địa chính trị toàn cầu tác động đến nguồn
nhiên liệu nhập khẩu. Cùng với đó, hiện tượng El Nino được dự báo sẽ làm lượng
nước về các hồ thủy điện sụt giảm, khiến công tác cung ứng điện thêm nhiều
thách thức.
Trong bối cảnh đó, EVN đã triển khai đồng bộ nhiều giải
pháp theo tinh thần Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị và Chỉ thị số
10/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ. EVN đã thành lập Ban chỉ đạo điều hành cung ứng
điện năm 2026, phối hợp với Công ty Vận hành hệ thống điện và thị trường điện
quốc gia (NSMO) xây dựng các kịch bản vận hành linh hoạt nhằm bảo đảm an ninh
năng lượng.
Một trong những trọng tâm được EVN thúc đẩy là phát
triển điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu. Các tổng công ty điện lực đã xây dựng
quy trình tiếp nhận đăng ký theo hướng công khai, minh bạch, cho phép khách
hàng thực hiện trực tuyến qua website và ứng dụng chăm sóc khách hàng. EVN cũng
kiến nghị đơn giản hóa thủ tục đầu tư theo cơ chế “một cửa”, điều chỉnh quy định
giấy phép hoạt động điện lực phù hợp với mô hình tự dùng không phát lên lưới và
sớm ban hành các chính sách tín dụng xanh, ưu đãi vốn vay.
Song song với phát triển nguồn điện phân tán, EVN đẩy
mạnh các chương trình tiết kiệm điện và điều chỉnh phụ tải (DR). Năm 2026, EVN
đặt mục tiêu tiết kiệm 3% tổng sản lượng điện cả năm; riêng giai đoạn cao điểm
mùa khô từ tháng 4 đến tháng 7 phấn đấu tiết kiệm khoảng 10%. Ngành điện cũng vận
động doanh nghiệp, khu công nghiệp dịch chuyển giờ sản xuất nhằm giảm áp lực phụ
tải vào giờ cao điểm.
Đáng chú ý, EVN dự kiến đề xuất Bộ Công Thương cập nhật
lại khung giờ cao điểm từ 18 giờ 30 đến 22 giờ 30 để phù hợp hơn với thực tế biểu
đồ phụ tải hiện nay, đồng thời nghiên cứu thêm các cơ chế khuyến khích khách
hàng tham gia điều chỉnh phụ tải.
Trong bối cảnh tỷ trọng năng lượng tái tạo ngày càng
tăng, hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS) được xem là giải pháp quan trọng
nhằm nâng cao tính ổn định của hệ thống điện. EVN đã giao Tổng Công ty Điện
lực miền Bắc (EVNNPC) triển khai BESS công suất 530 MW, Tổng công ty Điện lực
TP Hà Nội (EVNHANOI) triển khai 275 MW và Tổng công ty Truyền tải điện Quốc gia
(EVNNPT) đầu tư khoảng 300 MW. Các dự án này được kỳ vọng sẽ góp phần giảm tải
cho hệ thống trong các khung giờ cao điểm và tăng tính linh hoạt cho lưới điện.
Theo ông Nguyễn Thế Hữu, Phó Cục trưởng Cục Điện lực
(Bộ Công Thương), từ cuối năm 2025, Bộ Công Thương đã phê duyệt phương thức vận
hành hệ thống điện quốc gia năm 2026 với phương án cơ sở tăng trưởng phụ tải
khoảng 8,5% và phương án cực đoan mùa khô có thể lên tới 14,1%.
Để chủ động ứng phó, Bộ Công Thương đang triển khai đồng
bộ nhiều nhóm giải pháp. Trong đó, ưu tiên hàng đầu là khai thác hợp lý các nguồn
điện, đặc biệt là thủy điện. Hiện các hồ thủy điện lớn, nhất là ở miền Bắc, đều
đang duy trì mực nước cao để sẵn sàng cho cao điểm mùa khô.
Cùng với đó, Bộ Công Thương tập trung nâng cao khả
năng cung cấp nhiên liệu cho nhiệt điện khí, đồng thời đưa thêm các dự án nguồn
và lưới điện trọng điểm vào vận hành. Đáng chú ý, Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng
II đã phát điện thương mại, bổ sung khoảng 1.300 MW cho hệ thống. Một số trạm
biến áp 500kV như Phố Nối, Lai Châu, Hòa Bình cũng được nâng công suất nhằm
tăng cường khả năng truyền tải điện cho miền Bắc.
Bộ Công Thương cũng yêu cầu các đơn vị phát điện thực
hiện nghiêm công tác duy tu, bảo dưỡng để bảo đảm độ khả dụng cao nhất của các
tổ máy; đồng thời thúc đẩy triển khai hệ thống BESS trên lưới điện phân phối,
phát triển điện mặt trời mái nhà tự sản, tự tiêu và các chương trình quản lý
nhu cầu phụ tải điện.
Theo đánh giá của Bộ Công Thương, khủng hoảng Trung
Đông đã tác động trực tiếp đến nguồn cung và giá LNG toàn cầu, đồng thời ảnh hưởng
gián tiếp đến thị trường than do chi phí vận chuyển tăng cao. Tuy nhiên, do tỷ
trọng LNG nhập khẩu cho phát điện của Việt Nam hiện vẫn ở mức thấp nên tác động
chưa quá lớn.
Đối với nguồn than, Bộ Công Thương đã chỉ đạo các đơn
vị đa dạng hóa nguồn cung, tăng cường dự trữ nhiên liệu và nâng cao năng lực
khai thác trong nước nhằm bảo đảm nguồn nhiên liệu cho sản xuất điện không bị
gián đoạn.
Tính đến hết quý I/2026, công suất nguồn điện năng lượng
tái tạo, gồm điện gió, điện mặt trời và sinh khối, đã chiếm khoảng 26% tổng cơ
cấu nguồn điện của Việt Nam. Tuy nhiên, các nguồn điện này có tính biến động lớn
do phụ thuộc vào điều kiện thời tiết. Vì vậy, việc phát triển thủy điện tích
năng và các hệ thống lưu trữ năng lượng đang được xem là giải pháp quan trọng để
nâng cao khả năng điều tiết công suất và khai thác hiệu quả năng lượng tái tạo.

Sang quý II/2026, áp lực cung ứng điện sẽ tiếp tục gia
tăng do nhu cầu điện tăng mạnh.
Theo EVN, bước sang quý II/2026, áp lực cung ứng điện
sẽ tiếp tục gia tăng do nhu cầu điện tăng mạnh bởi nắng nóng, phục hồi sản xuất
công nghiệp, sự phát triển của AI, chuyển đổi số và xu hướng xe điện.
Trước áp lực đó, EVN yêu cầu các đơn vị phát điện bảo
đảm đủ nhiên liệu, duy trì độ khả dụng của các tổ máy theo yêu cầu của Công ty
TNHH MTV Vận hành hệ thống điện và thị trường điện Quốc gia (NSMO) và vận hành
linh hoạt các hồ thủy điện để hài hòa giữa cấp nước nông nghiệp và phát điện.
Đối với lưới điện, EVNNPT tập trung xử lý triệt để các
khiếm khuyết thiết bị, đẩy nhanh lắp đặt hệ thống BESS và bảo đảm vận hành an
toàn hệ thống truyền tải, đặc biệt tại khu vực miền Bắc.
EVN cũng đẩy nhanh tiến độ các dự án nguồn và lưới điện
trọng điểm; trong đó, Dự án Nhiệt điện Quảng Trạch I dự kiến hòa lưới tổ máy 1
trong tháng 4/2026 và phát điện thương mại trong tháng 5/2026. Các dự án LNG Quảng
Trạch II, III, Thủy điện Trị An mở rộng và Thủy điện tích năng Bác Ái cũng đang
được thúc đẩy tiến độ.
Ở lĩnh vực lưới điện, nhiều dự án cấp bách được yêu cầu
hoàn thành trong quý II/2026 như đường dây 500/220kV Nho Quan - Phủ Lý - Thường
Tín; đường dây 220kV Nhà máy điện Nhơn Trạch 3 - Long Thành; đường dây 220kV
Tây Hà Nội - Thanh Xuân; trạm biến áp 220kV Đại Mỗ và các đường dây 110kV cấp
điện cho Phú Quốc phục vụ APEC.
Với việc triển khai đồng bộ từ nguồn điện, lưới điện,
lưu trữ năng lượng đến tiết kiệm điện và điều chỉnh phụ tải, ngành điện kỳ vọng
sẽ giữ vững an ninh năng lượng quốc gia, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế -
xã hội trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới tiếp tục tiềm ẩn nhiều biến
động.
TTXVN
