Lần đầu tiên, Việt Nam đã thông qua chiến lược truyền thông quốc gia nhằm quảng bá thương hiệu quốc tế giai đoạn 2026-2030. Được Thủ tướng Phạm Minh Chính ban hành cuối tháng 1, chiến lược này định nghĩa việc xây dựng thương hiệu quốc tế không chỉ đơn thuần là hoạt động truyền thông hay quảng bá, mà là một công cụ quyền lực mềm chiến lược phục vụ trực tiếp cho sự phát triển quốc gia và gắn liền với các mục tiêu dài hạn của Việt Nam đến năm 2045.

Trao đổi với phóng viên , chuyên gia Nicholas Chapman thuộc Đại học Tohoku của Nhật Bản cho rằng các mục tiêu đầy tham vọng của chiến lược này hoàn toàn có thể đạt được, nhờ nền tảng vững chắc của Việt Nam trong lĩnh vực ngoại giao, văn hóa và tiềm năng kinh tế.



Phó giáo sư Nicholas Chapman thuộc Đại học Tohoku, Nhật Bản.

Lần đầu tiên, chiến lược này đề ra yêu cầu phát triển một thông điệp quốc gia thống nhất và bộ nhận diện hình ảnh ở cấp chiến lược cho Việt Nam. Theo ông, việc công bố chiến lược vào thời điểm này có ý nghĩa gì?

Tôi tin rằng việc công bố văn kiện này đánh dấu sự chuyển mình của Việt Nam từ giai đoạn nhận thức sang giai đoạn thực thi quyền lực mềm. Thúc đẩy quyền lực mềm bao gồm ba giai đoạn riêng biệt: nhận thức, thực thi và kích hoạt.

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 13 vào tháng 2 năm 2021 lần đầu tiên định nghĩa sức mạnh mềm cho Việt Nam. Ngoại giao được đặc biệt nhấn mạnh như một phương tiện để tăng cường sức mạnh mềm của Việt Nam, vốn được xem là thế mạnh lớn nhất của đất nước trong lĩnh vực này.

Trên trường ngoại giao, Việt Nam đã thể hiện khả năng xử lý khéo léo các thách thức quốc tế, củng cố uy tín là một đối tác đáng tin cậy và trung thực, luôn ưu tiên hòa bình, ổn định và hội nhập quốc tế.

Đại hội Đảng lần thứ 14 nhằm mục đích xây dựng dựa trên nền tảng này bằng cách xây dựng và điều phối một cách tiếp cận toàn diện hơn đối với quyền lực mềm, nhấn mạnh tầm quan trọng của một thông điệp thống nhất.

Giai đoạn cuối cùng, giai đoạn kích hoạt, bao gồm việc chuyển đổi các sáng kiến ​​và chiến lược của Việt Nam thành bản chất của sức mạnh mềm có lợi cho lợi ích quốc gia của Việt Nam. Mặc dù giai đoạn này còn xa, nhưng một chiến lược truyền thông thống nhất là rất quan trọng để đạt được mục tiêu này vì nó sẽ cung cấp một khuôn khổ tổng thể cho tất cả các bộ ngành chính phủ.



Lễ hội văn hóa Áo dài Việt Nam

Theo ông, những yếu tố nào có thể góp phần tăng cường sức mạnh mềm của Việt Nam?

Ba yếu tố thiết yếu để Việt Nam tăng cường sức mạnh mềm là tiếp tục xây dựng năng lực kinh tế, phối hợp thể chế và "hạt giống văn hóa".

Người ta thường nói sức mạnh cứng là nền tảng của sức mạnh mềm. Việt Nam cần trau dồi sức mạnh cứng để đạt được tốt hơn các mục tiêu sức mạnh mềm, đặc biệt là khi xét đến các mục tiêu đã đề ra trong chiến lược của mình. Tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ hơn là yếu tố then chốt để đạt được điều này.

Mỹ, Anh, Hàn Quốc và Nhật Bản là những quốc gia gắn liền với quyền lực mềm. Các quốc gia này có những công ty dễ nhận biết ngay lập tức, chẳng hạn như Panasonic của Nhật Bản và LG của Hàn Quốc. Việt Nam đã đặt nền tảng cho việc phát triển các doanh nghiệp trong nước có thể trở thành những nhà vô địch quốc gia, đáng chú ý nhất là với Nghị quyết 68 về phát triển khu vực tư nhân.

Tuy nhiên, việc hiện thực hóa điều này vẫn còn xa vời. Hiện tại, Việt Nam cần tiếp tục ưu tiên chuyển giao công nghệ hiệu quả, nâng cao kỹ năng nguồn nhân lực và đảm bảo các công ty này vươn lên chuỗi giá trị cao hơn để tăng trưởng và trở nên có giá trị đối với cộng đồng toàn cầu. Điều này sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa khi các quốc gia trên thế giới ngày càng gắn bó hơn với các công ty và thương hiệu Việt Nam.

Việc xây dựng sức mạnh mềm cũng đòi hỏi các nguồn lực tương ứng. Nền kinh tế Việt Nam càng phát triển, càng có nhiều nguồn lực để dành cho việc quảng bá thương hiệu quốc tế.

Về khía cạnh thứ hai, Việt Nam nên thành lập một cơ quan trung ương chịu trách nhiệm thúc đẩy việc quảng bá văn hóa, nghệ thuật và ngôn ngữ của mình. Cơ quan này nên được xây dựng theo mô hình của Hàn Quốc và Nhật Bản. Bên cạnh đó, chính phủ nên xem xét việc thành lập các trung tâm văn hóa Việt Nam ở nước ngoài để tăng cường việc truyền bá thông điệp thống nhất của đất nước.

Khía cạnh khó khăn nhất là đảm bảo gieo mầm "hạt giống văn hóa" để thu hút thế giới, giống như Dragon Ball của Nhật Bản và Squid Games của Hàn Quốc. Những biểu tượng văn hóa này đã gieo những hạt giống giúp cho anime và văn hóa nói chung phát triển mạnh mẽ. Điều này không chỉ giới hạn ở lĩnh vực giải trí mà ẩm thực cũng đóng vai trò quan trọng.

Ẩm thực Việt Nam đang ngày càng được công nhận trên toàn cầu, nhưng vẫn còn nhiều tiềm năng phát triển. Tiềm năng đó rất lớn, chỉ cần được nuôi dưỡng và phát triển thêm.



Lễ hội Tết cổ truyền dân tộc Việt Nam

Ông nghĩ sao về tính khả thi của việc Việt Nam lọt vào top 3 ASEAN và top 30 thế giới trong Chỉ số Sức mạnh mềm vào năm 2045? Cần những nền tảng nào để đạt được mục tiêu này?

Tôi phải nói rằng những mục tiêu này đầy tham vọng nhưng hoàn toàn khả thi. Đặc biệt trong khu vực ASEAN, Việt Nam có vị thế tốt để hướng tới vị trí top 3 trong Chỉ số Sức mạnh mềm vào năm 2045.

So với nhiều quốc gia trong khu vực, Việt Nam đã có những lợi thế từ một câu chuyện quốc gia tương đối mạnh mẽ và mạch lạc, một môi trường chính trị ổn định và vị thế quốc tế ngày càng tăng nhờ hội nhập kinh tế bền vững và sự tham gia ngoại giao tích cực.

Nền ngoại giao của Việt Nam tạo nền tảng đặc biệt vững chắc cho việc phát huy sức mạnh mềm của nước này.

Những năm gần đây, Hà Nội đã thể hiện sự linh hoạt chiến lược cao độ, duy trì quan hệ cân bằng và mang tính xây dựng với các cường quốc lớn, đồng thời làm sâu sắc thêm quan hệ đối tác trong ASEAN, châu Âu và khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương rộng lớn hơn. Cách tiếp cận này đã nâng cao uy tín của Việt Nam như một quốc gia đáng tin cậy, thực dụng và tự chủ trong một môi trường quốc tế ngày càng phân cực.

Uy tín và sự tin tưởng như vậy là những yếu tố cốt lõi của quyền lực mềm và mang lại cho Việt Nam lợi thế so với các quốc gia có chính sách đối ngoại được cho là mang tính phản ứng hoặc bị hạn chế hơn.

Ngoài lĩnh vực ngoại giao, sự tham gia ngày càng mở rộng của Việt Nam vào các thể chế đa phương, các hoạt động gìn hòa bình và các khuôn khổ thương mại quốc tế củng cố hình ảnh của nước này như một bên tham gia có trách nhiệm trong các vấn đề toàn cầu.

Về mặt văn hóa, Việt Nam sở hữu những di sản lịch sử và văn hóa phong phú nhưng chưa được khai thác triệt để trên trường quốc tế, trong khi lại có tiềm năng to lớn trong dài hạn nếu được kết hợp với các hoạt động quảng bá văn hóa, trao đổi giáo dục và ngoại giao công chúng có hệ thống hơn.

Việc đạt được thứ hạng top 30 toàn cầu sẽ khó khăn hơn, do sự cạnh tranh từ các cường quốc có tầm ảnh hưởng lâu năm trong lĩnh vực văn hóa, giáo dục và truyền thông toàn cầu. Tuy nhiên, điều này không phải là không thể đạt được trong vòng hai thập kỷ tới.

Nếu Việt Nam có thể phát huy hiệu quả các thế mạnh ngoại giao của mình, tiếp tục hiện đại hóa kinh tế và đầu tư chiến lược hơn vào giao lưu văn hóa, đổi mới sáng tạo và truyền thông toàn cầu, thì tiến trình hướng tới mục tiêu này là hoàn toàn khả thi. Theo nghĩa này, ngoại giao mạnh mẽ không chỉ là điểm khởi đầu mà còn là yếu tố nhân rộng quan trọng, giúp chuyển hóa các nguồn lực vật chất và văn hóa của Việt Nam thành những lợi ích bền vững về quyền lực mềm.

Cảm ơn ông đã chia sẻ!

Nicholas Chapman là nhà nghiên cứu chuyên về chính sách đối ngoại, kinh tế chính trị và lịch sử Việt Nam, hiện đang công tác tại Đại học Tohoku ở Nhật Bản. Nghiên cứu của ông cũng tập trung vào các vấn đề an ninh ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương và di cư lao động ở châu Á. Ông có bằng Thạc sĩ và Tiến sĩ Quan hệ Quốc tế từ Đại học Quốc tế Nhật Bản.

CA- Ttttbhn