Bộ Công
Thương cho biết, Việt Nam phát triển công nghệ theo từng giai đoạn và phù hợp với
từng chủng loại than sử dụng, phù hợp với xu thế phát triển của thế giới theo từng
giai đoạn.
Cụ thể,
các nhà máy nhiệt điện đốt than phát triển trước giai đoạn 2010 hầu hết là sử dụng
than antracite trong nước với chất bốc rất thấp, nhiệt trị thấp và độ tro cao
nên chỉ phù hợp với thông số hơi cận tới hạn.
Các nhà
máy nhiệt điện đốt than phát triển giai đoạn sau năm 2010 đến nay và sử dụng
than nhập đều đã chuyển sang áp dụng thông số hơi trên tới hạn (hiệu suất cao,
suất tiêu hao nhiên liệu giảm).
Đặc biệt
các nhà máy nhiệt điện đang trong quá trình xây dựng như Vũng Áng II, Quảng Trạch
I đã áp dụng thông số hơi trên siêu tới hạn, thuộc loại tiên tiến nhất hiện
nay. Hầu hết các nhà máy nhiệt điện than hiện đang vận hành ổn định và đáp ứng
các yêu cầu quy định hiện hành về môi trường khí thải (QCVN 22:2009/BTNMT; QCVN
05:2009/BTNMT) và môi trường nước thải (QCVN 14:2008/BTNMT, QCVN
40:2011/BTNMT).
Chuyển đổi
nhiên liệu cần lộ trình phù hợp
Theo Quy
hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050
(Quy hoạch điện VIII) đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số
500/QĐ-TTg, Việt Nam sẽ không xây dựng các nhà máy nhiệt điện than mới sau năm
2030 và các nhà máy điện khí sau năm 2035 để bảo đảm giảm phát thải carbon và mục
tiêu cam kết tại COP 26 về trung hoà carbon vào năm 2050.
Hiện nay,
việc chuyển đổi nhiên liệu của các nhà máy nhiệt điện sang sử dụng amoniac đã
được các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực năng lượng trên thế giới phát
triển nghiên cứu thử nghiệm và cơ bản đã hoàn thành thử nghiệm với tỉ lệ đốt trộn
amoniac đạt 20%.
Tuy nhiên,
Bộ Công Thương nhận định, việc tăng tỉ lệ đốt kèm, sẽ dẫn đến tăng chi phí đầu
tư và vận hành do cần phải tiến hành nghiên cứu, thay thế các thiết bị, cũng
như hiện nay chuỗi cung ứng amoniac, hydro chưa được hình thành và phát triển
nên việc bảo đảm cung cấp đủ nhiên liệu thay thế cho than, khí để vận hành ổn định
nhà máy điện khi thực hiện chuyển đổi nhiên liệu là một thách thức lớn.
Đáng nói,
khi chuyển đổi nhiên liệu sẽ làm giá điện tăng lên, ảnh hưởng đến phát triển
kinh tế xã hội và đời sống người dân.
Do đó, Bộ
Công Thương cho rằng, việc chuyển đổi nhiên liệu trong các nhà máy nhiệt điện sử
dụng nhiên liệu hóa thạch cần xem xét để phù hợp với tình hình phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam và công nghệ, chi phí thực tế tại các nước đi trước
trên thế giới.
Mới đây,
ngày 12/6, Bộ Công Thương đã có cuộc họp với các nhà máy nhiệt điện đốt than để
triển khai thực hiện Quyết định 500/QĐ-TTg liên quan đến việc chuyển đổi nhiên
liệu cho các nhà máy nhiệt điện than.
Cơ quan
này cũng đã ban hành văn bản số 3606/BCT-ĐL ngày 12/6/2023 đề nghị chủ đầu tư
các nhà máy nhiệt điện đốt than khẩn trương nghiên cứu, xây dựng kế hoạch chuyển
đổi nhiên liệu sang sử dụng nhiên liệu sinh khối và amoniac để triển khai áp dụng
khi đủ 20 năm vận hành, bảo đảm hiệu quả kinh tế của nhà máy; đối với các nhà
máy điện than không thể thực hiện chuyển đổi nhiên liệu hoặc thu giữ carbon, đề
nghị nghiên cứu xây dựng phương án dừng hoạt động khi nhà máy đã vận hành đủ 40
năm.
Năm 2050,
không còn sử dụng than để phát điện
Bộ Công
Thương khẳng định, để bảo đảm việc phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050, tất cả
các phương án đề xuất tính toán đều phải thực hiện chuyển đổi năng lượng tại
Quy hoạch điện VIII.
Theo đó,
ưu tiên khai thác, sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng tái tạo phục vụ sản xuất
điện; tỉ lệ điện năng sản xuất từ các nguồn năng lượng tái tạo (tính cả thủy điện)
đạt khoảng 30,9 - 39,2% vào năm 2030, hướng tới mục tiêu tỉ lệ năng lượng tái tạo
47% với điều kiện các cam kết theo Tuyên bố chính trị thiết lập Quan hệ đối tác
chuyển đổi năng lượng công bằng (JETP) với Việt Nam được các đối tác quốc tế thực
hiện đầy đủ, thực chất và khoảng 67,5 - 71,5% vào năm 2050.
Đi cùng với
đó là khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng hóa thạch trong nước kết
hợp với nhập khẩu: Giảm dần tỷ trọng nhiệt điện than, ưu tiên phát triển điện
khí trong nước, phát triển các nguồn điện khí LNG nhập khẩu với quy mô phù hợp.
Thực hiện chuyển dịch năng lượng bám sát xu thế phát triển công nghệ và giá
thành trên thế giới.
Dự kiến,
năm 2030, tổng công suất các nhà máy nhiệt điện than đang vận hành và các dự án
đang triển khai xây dựng, khả năng sẽ hoàn thành và đưa vào vận hành khoảng
30.127 MW. Định hướng năm 2050, không còn sử dụng than để phát điện, chuyển
hoàn toàn sang sinh khối/amoniac, tổng công suất 25.632 - 32.432 MW, sản xuất
72,5 - 80,9 tỷ kWh (5,3 - 6,6% tổng điện năng sản xuất).
Cùng với
chuyển dịch năng lượng, Việt Nam sẽ thúc đẩy sử dụng điện tiết kiệm và hiệu quả;
tiếp tục đẩy nhanh việc phát triển hệ thống điện thông minh, có khả năng tích hợp
nguồn năng lượng tái tạo với tỉ lệ thâm nhập cao; nâng cấp và xây dựng lưới điện
truyền tải, phân phối ngày càng tiên tiến, hiện đại.
Với chương
trình phát triển nguồn điện đề ra trong Quy hoạch điện VIII, mức phát thải CO2
của ngành điện năm 2030 đạt 204 - 254 triệu tấn, 2035 đạt 226 - 254 triệu tấn
và đến năm 2050 sẽ ở mức 27 - 31 triệu tấn (thấp hơn hạn mức 35 triệu tấn nêu ở
trên).
Như vậy, Bộ
Công Thương khẳng định: Lộ trình chuyển đổi năng lượng trong Quy hoạch điện
VIII bảo đảm mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm 2050 trong Quyết định số
896/QĐ-TTg.
