Theo số liệu Cục Thống kê (Bộ Tài chính), tính chung 8 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 770,14 tỷ USD, mức cao nhất của tám tháng từ trước đến nay, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, nhập khẩu tăng 35,3%, nhanh hơn đáng kể so với mức tăng 22,4% của xuất khẩu, khiến cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 20,46 tỷ USD.
Mức nhập siêu này một phần đến từ biến động giá xăng dầu,
chip, linh kiện điện tử trên thế giới. Tuy nhiên, một nguyên nhân đáng chú ý
khác là doanh nghiệp đang gia tăng nhập khẩu để phục vụ sản xuất, mở rộng đầu
tư và xây dựng trung tâm dữ liệu.
94% hàng nhập khẩu là tư liệu sản xuất
Cơ cấu hàng hóa nhập khẩu đang cho thấy một điểm đáng
chú ý. Trong 8 tháng năm 2026, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 372,04 tỷ USD,
chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ
tùng chiếm 57,6%; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 36,5%.
Theo TS. Lê Duy Bình, Giám đốc Economica Việt Nam, đây là tín hiệu tương đối tích cực đối với nền kinh tế. Việc máy móc, linh kiện, nguyên phụ liệu cho các ngành dệt may, da giày, điện tử, nội thất... chiếm khoảng 94% tổng kim ngạch nhập khẩu phản ánh nhu cầu lớn về nguyên liệu và thiết bị phục vụ sản xuất.
Trong bối cảnh công nghiệp hỗ trợ trong nước chưa đáp ứng
được yêu cầu của các ngành chế biến, chế tạo quy mô lớn, nhiều doanh nghiệp, đặc
biệt là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, buộc phải tăng nhập khẩu linh kiện,
máy móc và nguyên liệu để phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu.
“Xét tổng thể, mức nhập siêu hiện nay chủ yếu đến từ
việc nhập khẩu đầu vào cho sản xuất, qua đó góp phần mở rộng năng lực sản xuất
và tạo nền tảng cho tăng trưởng. Đây cũng có thể được xem là bước chuẩn bị cho
một chu kỳ xuất khẩu mạnh mẽ hơn trong thời gian tới”, TS. Lê Duy Bình cho biết.
Theo cách nhìn này, nhập siêu tăng cao chưa hẳn là tín
hiệu tiêu cực. Vấn đề nằm ở việc nguồn lực nhập khẩu có được chuyển hóa đủ
nhanh thành năng lực sản xuất, sản phẩm và hàng hóa xuất khẩu hay không.
Đây cũng chính là “ẩn số” đối với nền kinh tế trong những
tháng cuối năm.
Tại phiên họp thường kỳ Chính phủ vừa qua, Bộ trưởng Bộ
Tài chính Ngô Văn Tuấn cảnh báo: “Nếu nhập khẩu tư liệu sản xuất chậm chuyển
hóa thành hoạt động sản xuất, kinh doanh và xuất khẩu, thì sẽ ảnh hưởng tới
tăng trưởng, thị trường ngoại hối, tỷ giá”.
Năm 2026, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng hai con số,
trong khi 6 tháng đầu năm đạt 8,18%. Theo kịch bản đề ra, để tăng trưởng cả năm
đạt từ 10% trở lên, GDP 6 tháng cuối năm phải tăng 11,7%. Trong bối cảnh đó, nếu
nhập siêu tiếp tục tăng nhanh, đóng góp của cán cân thương mại vào tăng trưởng
GDP có thể bị thu hẹp, trong khi nền kinh tế vẫn phụ thuộc khá lớn vào hoạt động
thương mại quốc tế.
Bài toán lớn vẫn là phụ thuộc đầu vào nhập khẩu
Nhập siêu không phải vấn đề mới của Việt Nam. Trước
khi xuất siêu tăng mạnh trong một thập kỷ qua, nền kinh tế từng trải qua thời
gian dài nhập siêu.
Giai đoạn 2007-2010, nhập siêu thường xuyên ở mức 2
con số. Riêng năm 2008, nhập siêu lên tới 18 tỷ USD, bằng 28,8% tổng kim ngạch
xuất khẩu. Đây là giai đoạn Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu sau khi chính thức gia
nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Khi xuất khẩu càng cao, nhu cầu nhập khẩu
càng lớn. Cùng với đó, lạm phát tăng cao, giá nguyên vật liệu đầu vào nhập khẩu
tăng, khiến cán cân thương mại thâm hụt nặng.
Nhiều chuyên gia khi đó đã chỉ ra vấn đề lớn của nền
kinh tế là sự phụ thuộc vào nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào nhập khẩu. Sau gần
20 năm, câu chuyện này vẫn còn nguyên tính thời sự.
Số liệu 8 tháng năm 2026 tiếp tục cho thấy sự khác biệt lớn giữa khu vực FDI và khu vực doanh nghiệp trong nước. Khu vực FDI (kể cả dầu thô) xuất siêu 10,14 tỷ USD, trong khi khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 30,6 tỷ USD - cao hơn mức nhập siêu chung của cả nước.
Đáng chú ý, khu vực FDI đạt gần 590,6 tỷ USD kim ngạch
xuất nhập khẩu, chiếm gần 76,7% tổng kim ngạch cả nước; khu vực trong nước chỉ
chiếm 23,3%. Những con số này cho thấy, thương mại quốc tế của Việt Nam vẫn phụ
thuộc lớn vào khu vực doanh nghiệp nước ngoài.
Theo ông Đậu Anh Tuấn, Phó Tổng Thư ký, Trưởng Ban
Pháp chế Liên đoàn thương mại và công nghiệp Việt Nam (VCCI), sự lép vế của
doanh nghiệp Việt không chỉ do thiếu vốn hay máy móc.
Các tập đoàn nước ngoài khi đầu tư thường mang theo hệ
thống nhà cung cấp cấp 1 đã được phê duyệt trên toàn cầu. Doanh nghiệp Việt vì
thế khó tham gia vào các vị trí quan trọng, chủ yếu đảm nhận những khâu đơn giản,
giá trị thấp như bao bì, giá kê hoặc chi tiết nhựa.
Khoảng cách còn nằm ở năng lực quản trị chất lượng,
bóc tách giá thành, truy xuất nguồn gốc và chuẩn hóa tài liệu kỹ thuật. Đây là
những khoản đầu tư lớn nhưng chưa chắc mang lại đơn hàng ngay, khiến nhiều
doanh nghiệp chỉ đầu tư sau khi có hợp đồng. Trong khi đó, muốn tham gia chuỗi
cung ứng, doanh nghiệp lại phải chuẩn bị năng lực từ trước.
Khu vực tư nhân cũng thiếu doanh nghiệp quy mô đủ lớn
để trở thành nhà cung cấp cấp 1, cấp 2. Trong khi đó, linh kiện nhập khẩu được
hưởng thuế thấp hoặc bằng 0 khiến việc mua hàng trong nước chưa tạo lợi thế rõ
rệt về chi phí.
Dưới góc độ chuyên gia, TS. Võ Trí Thành, Viện trưởng
Viện Nghiên cứu Chiến lược Thương hiệu và Cạnh tranh cho rằng, Việt Nam cần học
hỏi từ chính các đối tác FDI, phân tích dòng vốn FDI vào công nghệ, chế biến chế
tạo tác động đến xuất khẩu ra sao, đồng thời nghiên cứu quyết định của các nhà
đầu tư chiến lược.
Trong khi đó, chuyên gia của Ngân hàng Phát triển châu
Á (ADB) cho rằng, nền kinh tế Việt Nam vẫn tiềm ẩn rủi ro do độ mở lớn, khoảng
170% GDP, cùng những biến động của thương mại toàn cầu, giá năng lượng và nhu cầu
tại các thị trường xuất khẩu lớn.
“Nhập khẩu đang tăng nhanh hơn xuất khẩu phản ánh nhu
cầu mở rộng sản xuất, nhưng đồng thời cho thấy, nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn
vào máy móc, nguyên vật liệu và linh kiện nhập khẩu. Vì vậy, Việt Nam cần phát
triển mạnh công nghiệp hỗ trợ, nâng tỷ lệ nội địa hóa và gia tăng giá trị được
giữ lại trong nước”, đại diện ADB nói.
Theo nhiều chuyên gia kinh tế, điểm mấu chốt của bài
toán nhập siêu không phải mọi khoản nhập khẩu đều đáng lo, mà đáng lo là phần
giá trị tạo ra từ dòng nhập khẩu đó chưa được giữ lại đủ nhiều trong nước. Do
đó, để giải bài toán này không nằm ở việc tìm cách “hãm” nhập khẩu bằng mọi giá
mà điều quan trọng là Việt Nam nhập khẩu những gì và những nguồn lực đó được
chuyển hóa thành bao nhiêu năng lực sản xuất, năng suất và giá trị xuất khẩu.
Trong ngắn hạn, cần hỗ trợ doanh nghiệp sử dụng hiệu
quả nguồn lực nhập khẩu, đẩy nhanh quá trình chuyển hóa máy móc, nguyên liệu và
linh kiện thành sản phẩm. Về dài hạn, mấu chốt vẫn là phát triển công nghiệp hỗ
trợ, chủ động nguồn nguyên liệu trong nước và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa ở các
ngành công nghiệp trọng điểm.
Nói cách khác, điều đáng quan tâm không phải Việt Nam
nhập siêu bao nhiêu, mà là nhập khẩu để làm gì và bao nhiêu giá trị từ dòng nhập
khẩu đó được giữ lại trong nền kinh tế.
Theo VOV
