Đẩy nhanh các dự án công nghiệp
Theo Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương), tăng trưởng
công nghiệp hiện nay vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài (FDI), trong khi năng lực của doanh nghiệp trong nước còn hạn chế.
Nhiều ngành công nghiệp nền tảng như cơ khí, vật liệu, hóa chất, công nghiệp hỗ
trợ vẫn chưa hình thành được các chuỗi sản xuất đủ lớn để tạo sức lan tỏa. Điều
này khiến khả năng nâng cao giá trị gia tăng và sức chống chịu của nền công
nghiệp trước các biến động bên ngoài còn chưa như kỳ vọng.

Động lực tăng trưởng công nghiệp trong giai đoạn tới
được kỳ vọng sẽ đến từ việc các dự án công nghiệp quy mô lớn đồng loạt đi vào vận
hành và mở rộng sản xuất.
Trước thực trạng đó, việc thúc đẩy các dự án công nghiệp
quy mô lớn được xem là một trong những giải pháp quan trọng nhằm tạo động lực
tăng trưởng mới. Đây không chỉ là những dự án có tổng vốn đầu tư lớn mà còn là
các dự án ứng dụng công nghệ cao, có khả năng dẫn dắt chuỗi cung ứng, hình
thành hệ sinh thái sản xuất và tạo hiệu ứng lan tỏa tới nhiều ngành, lĩnh vực.
Đơn cử địa phương như Thanh Hóa hiện có 40 dự án quy
mô lớn đang triển khai, với tổng vốn đầu tư đăng ký gần 130.100 tỷ đồng, trong
đó có nhiều dự án công nghiệp trọng điểm. Hiện nay, một số công trình đã bước
vào giai đoạn lắp đặt thiết bị để chuẩn bị đưa vào vận hành khai thác, góp phần
gia tăng năng lực sản xuất công nghiệp - động lực quan trọng cho tăng trưởng của
địa phương. Như Dự án tổ hợp sản hoá chất Đức Giang Nghi Sơn có tổng vốn đầu tư
2.400 tỷ đồng với công suất 151.000 tấn hoá chất/năm, khi đi vào hoạt động nhà
máy sẽ cung cấp nhiều sản phẩm cho công nghiệp và tiêu dùng
Ông Hồ Mạnh Linh - Phó giám đốc Công ty TNHH MTV hoá
chất Đức Giang cho biết, doanh nghiệp lựa chọn Nghi Sơn để đặt chân nhà máy bởi
lợi thế kết nối thuận lợi giữa khu công nghiệp với cảng nước sâu. Đặc biệt,
Công ty đã nhìn thấy đầu ra sản phẩm ngay từ những nhà máy lớn trong khu vực
như Lọc hóa dầu Nghi Sơn, các nhà máy dệt nhuộm và nhà máy hoá chất. Hiện dự án
số 1, Tổ hợp hóa chất Đức Giang Nghi Sơn với quy mô công suất 151.000 tấn hóa
chất/năm đã hoàn thành khoảng 85% khối lượng và dự kiến vận hành thương mại vào
đầu năm 2027.
Cũng đang vào giai đoạn lắp ráp thiết bị là dây chuyền
3, nhà máy luyện cán thép Nghi Sơn số 2 với công suất 1,6 triệu tấn cán
thép/năm. Đây là một trong những dây chuyền sản xuất thép có công suất lớn hiện
đại nhất thế giới hiện nay phục vụ thị trường trong nước và xuất khẩu. Dự án dự
kiến đưa vào vận hành thử quý IV/2026 và đưa vào sản xuất tháng 1/2027.
Trong lĩnh vực cơ khí chế tạo và ô tô, các tổ hợp sản
xuất công nghệ cao như VinFast tại Hải Phòng và Thaco tại Chu Lai đang tiếp tục
mở rộng dây chuyền tự động hóa, phát triển nhà máy sản xuất pin xe điện, từng
bước hình thành hệ sinh thái sản xuất khép kín.
Cùng với đó, việc mở rộng các dự án sản xuất linh kiện
bán dẫn, bo mạch điện tử tại Bắc Ninh, Thái Nguyên và TP. Hồ Chí Minh sẽ tạo
thêm động lực cho ngành điện tử công nghệ cao, góp phần thúc đẩy quá trình chuyển
đổi số trong sản xuất và nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng bán
dẫn toàn cầu. Khi các dự án quy mô lớn này đi vào hoạt động đồng bộ, không chỉ
năng lực sản xuất được nâng lên mà còn tạo hiệu ứng lan tỏa mạnh mẽ tới các
ngành công nghiệp hỗ trợ, logistics, dịch vụ kỹ thuật và đào tạo nguồn nhân lực,
qua đó trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng công nghiệp trong những
năm tới.
Hình thành hệ sinh thái sản xuất công nghiệp
Thực tế cho thấy, mỗi dự án lớn khi đi vào hoạt động
không chỉ đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng sản xuất công nghiệp mà còn kéo
theo nhu cầu về nguyên vật liệu, logistics, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ kỹ thuật
và nguồn nhân lực chất lượng cao. Từ đó, hình thành các cụm liên kết ngành, gia
tăng tỷ lệ nội địa hóa và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt
Nam.
Đáng chú ý các ngành công nghiệp chủ lực của Việt Nam
như: Sản xuất điện, điện tử; luyện kim, sắt thép; dệt may, da giày; cơ khí chế
biến chế tạo, ô tô, xe máy; khai thác, chế biến khoáng sản… tiếp tục phát triển.
Đặc biệt, một số ngành công nghiệp xuất khẩu (điện tử, dệt may, da giày…) đã có
vị trí vững chắc trên thị trường quốc tế, với thứ hạng xuất khẩu cao trong khu
vực và thế giới.

Tập trung hình thành các cụm liên kết ngành và hệ sinh thái công nghiệp quy mô vùng có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa
Trao đổi với PV, ông Quách Quang Đông - Phó Cục trưởng
Cục Công nghiệp thông tin, công nghiệp có đặc thù cần nguồn vốn lớn, thời gian
quay vòng vốn dài, tỷ suất lợi nhuận chưa hấp dẫn như một số ngành kinh tế
khác, vì vậy, cần tránh các biến động lớn trong kinh tế vĩ mô để có thể ổn định
và phát triển. Cần có thêm các dự án quy mô lớn, hiệu quả trong các lĩnh vực
năng lượng, khai khoáng, hạ tầng, công nghiệp nền tảng (từ nguồn vốn đầu tư
công hoặc đầu tư tư nhân)… để tạo động lực mới cho phát triển sản xuất công
nghiệp.
PGS.TS. Bùi Quang Tuấn - Phó Chủ tịch Hội Khoa học
Kinh tế Việt Nam, để xây dựng hệ sinh thái công nghiệp hiện đại, nâng cao năng
lực cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, Việt Nam cần triển
khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần hoàn thiện thể chế và tăng cường
liên kết vùng nhằm tạo không gian phát triển thống nhất cho các ngành công nghiệp.
Thay vì phát triển theo địa giới hành chính, các địa phương cần được kết nối
thông qua hạ tầng giao thông, năng lượng, hạ tầng số và cơ chế chia sẻ nguồn lực,
từ đó hình thành các cụm liên kết ngành và hệ sinh thái công nghiệp quy mô vùng
có khả năng tạo hiệu ứng lan tỏa.
Một cấu phần quan trọng khác là nâng cao năng lực khoa
học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp. Doanh nghiệp trong nước cần
từng bước nâng cấp trình độ công nghệ để tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng
toàn cầu, đồng thời chính sách thu hút FDI cũng cần chuyển từ ưu tiên số lượng
sang chất lượng, tăng cường liên kết với doanh nghiệp nội địa, thúc đẩy chuyển
giao công nghệ và lan tỏa tri thức. Việc ngày càng nhiều doanh nghiệp Việt trở
thành nhà cung ứng cho các tập đoàn đa quốc gia cho thấy dư địa phát triển của
hệ sinh thái công nghiệp trong nước còn rất lớn.
“Bên cạnh đó, việc hình thành các doanh nghiệp đầu tàu
có năng lực công nghệ, tài chính và quản trị sẽ đóng vai trò hạt nhân dẫn dắt hệ
sinh thái công nghiệp. Những doanh nghiệp này không chỉ tạo ra các chuỗi cung ứng
nội địa mà còn kéo theo sự phát triển của mạng lưới doanh nghiệp công nghiệp hỗ
trợ, từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa và giá trị gia tăng trong nước”-
PGS.TS. Bùi Quang Tuấn chỉ ra.
Ngoài ra, nhằm cụ thể hóa mục tiêu sản xuất công nghiệp tăng trưởng 2 con số, Bộ Công Thương tiếp tục thực hiện hiệu quả các chương trình làm việc với các địa phương và các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp hiện có nhằm phát huy đà tăng trưởng của các ngành công nghiệp tại các vùng kinh tế trọng điểm, tạo động lực tiếp tục thúc đẩy đà tăng trưởng công nghiệp trên phạm vi toàn quốc.
Theo Bộ Công Thương, với nền tảng tăng trưởng tích cực
trong những tháng đầu năm, cùng sự chủ động của cộng đồng doanh nghiệp, khu vực
công nghiệp được kỳ vọng sẽ tiếp tục là động lực quan trọng, góp phần hiện thực
hóa mục tiêu tăng trưởng kinh tế năm 2026.
Theo Duy Anh - BCT
