Sản xuất nhiều loại thép có giá trị gia tăng cao
Chiến lược phát triển ngành thép giai đoạn đến năm
2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Chiến lược) nhằm phát triển ngành thép theo hướng
tập trung vào sản phẩm thép có chất lượng cao phù hợp với tiêu chuẩn quốc gia
và tiêu chuẩn quốc tế; đa dạng về sản phẩm, từng bước chuyển đổi sang sản phẩm
có giá trị gia tăng cao, thân thiện môi trường, tận dụng tối đa nguồn nhiên liệu,
đáp ứng được nhu cầu sử dụng trong nước, tăng nhanh xuất khẩu, tính cạnh tranh
và tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu; chuyển đổi cơ cấu sản phẩm để từng
bước thay thế thép nhập khẩu, đặc biệt là thép hợp kim, thép dụng cụ và các sản
phẩm thép đặc biệt cho các ngành chế tạo trong nước.
Đến năm 2030, sản xuất thép thô đạt tốc độ tăng trưởng
bình quân khoảng 7-8%/năm, sản lượng khoảng 25-26 triệu tấn/năm. Thép thành phẩm
dự kiến tăng trưởng từ 5,5-6,5%/năm, đạt sản lượng khoảng 32-33 triệu tấn. Mức
tiêu thụ thép bình quân đạt 270-280kg/người/năm. Sản phẩm thép trong nước cơ bản
đáp ứng khoảng 80-85% nhu cầu sử dụng trong nước và từng bước gia tăng tỷ trọng
xuất khẩu. Tỷ lệ các sản phẩm thép có giá trị gia tăng cao như: thép hợp kim,
thép không gỉ và thép chất lượng cao phục vụ các ngành chế tạo, giao thông vận
tải và năng lượng tiếp tục được nâng lên.
Giai đoạn đến năm 2035, sản xuất thép thô phấn đấu
tăng trưởng bình quân khoảng 6-7%/năm, sản lượng đạt khoảng 33-36 triệu tấn.
Thép thành phẩm tăng trưởng từ 4,5-5,5%/năm, đạt khoảng 40-43 triệu tấn. Tiêu
thụ thép bình quân đạt 340-360kg/người/năm. Sản phẩm của ngành thép cơ bản đáp ứng
khoảng 85-90% nhu cầu trong nước và tiếp tục tăng tỷ trọng xuất khẩu. Tiếp tục
tăng tỷ lệ các sản phẩm thép có giá trị gia tăng cao: Thép hợp kim, thép không
gỉ, thép chất lượng cao phục vụ các ngành chế tạo, sản xuất, phương tiện giao
thông vận tải (ô tô, đóng tàu, đường sắt), năng lượng, thép chế tạo quốc phòng
an ninh.
Tầm nhìn đến năm 2050, Chiến lược đặt mục tiêu sản xuất
thép thô tăng trưởng bình quân khoảng 4,0-4,5%/năm, đạt sản lượng khoảng 65-70
triệu tấn. Thép thành phẩm tăng trưởng từ 3,5-4,0%/năm, sản lượng khoảng 75-80
triệu tấn. Tiêu thụ thép bình quân đạt 570-650kg/người/năm. Ngành thép cơ bản
đáp ứng tối đa nhu cầu sử dụng trong nước và từng bước gia tăng tỷ trọng xuất
khẩu, đồng thời tham gia ngày càng sâu vào chuỗi cung ứng của ngành thép thế giới.
Đầu tư mạnh cho công nghệ
Về định hướng phát triển, Chiến lược tập trung vào các
sản phẩm thép có lợi thế và có nhu cầu sử dụng cao nhưng hiện trong nước chưa sản
xuất được. Ưu tiên đầu tư cho các dự án sử dụng công nghệ tiên tiến, hiện đại,
sản xuất thép xanh, thép hợp kim và thép cho ngành chế tạo, hướng tới các sản
phẩm có năng lực cạnh tranh cao, đủ khả năng tham gia chuỗi giá trị toàn cầu.
Nâng cao hàm lượng khoa học - công nghệ trong sản xuất nhằm tăng năng suất, chất
lượng sản phẩm, phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế.
Không gian sản xuất ngành thép được định hướng phân bố
hợp lý theo lợi thế địa lý, tập trung đầu tư các dự án quy mô lớn tại những địa
phương có cảng nước sâu, có điều kiện hạ tầng thuận lợi, nguồn năng lượng tái tạo
và nguồn lực sản xuất phù hợp. Liên kết trong chuỗi giá trị từ nghiên cứu, cung
cấp nguyên liệu đến sản xuất và tiêu thụ sản phẩm tiếp tục được đẩy mạnh.
Bên cạnh đó, xác định các định hướng cụ thể về sản phẩm
ưu tiên, nguồn nguyên liệu, nguồn năng lượng, phát triển doanh nghiệp ngành
thép, thị trường tiêu thụ trong nước và xuất nhập khẩu, công nghệ và phân bố
không gian sản xuất.
Để hiện thực hóa các mục tiêu đề ra, Chiến lược đưa ra
các nhiệm vụ và giải pháp về cơ chế chính sách, thị trường, khoa học - công nghệ,
nguồn nhân lực, bảo vệ môi trường và các giải pháp cụ thể theo từng nhóm sản phẩm
thép như: phát triển công nghệ trong nước để sản xuất thép tấm cường độ cao,
thép dự ứng lực, thép dùng trong bê tông cốt thép ứng suất trước, thép không gỉ
chống ăn mòn dùng cho các công trình biển đảo, thép siêu nhẹ sử dụng cho các
thiết bị trong ngành giao thông vận tải; thép nhẹ cán nguội, thép ngành đóng
tàu.
Nghiên cứu sản xuất thép phục vụ nhu cầu vật liệu thép
cho xây dựng hạ tầng năng lượng, thép thanh ray cho phát triển đường sắt cao tốc,
thép ống đúc để vận chuyển khí hóa lỏng, ống thép không hàn cho đóng tàu, trụ
điện gió, thép chế tạo trong quốc phòng an ninh.
Ngành thép Việt Nam những năm qua đã đạt nhiều thành tựu,
lọt top 15 quốc gia xuất khẩu thép lớn nhất thế giới. Theo Hiệp hội Thép Việt
Nam (VSA), nhu cầu xây dựng dự báo sẽ tăng trưởng đáng kể nhờ sự cải thiện của
thị trường bất động sản và tiến độ đẩy mạnh đầu tư công. Dự báo năm 2026, ngành
thép sẽ đạt tăng trưởng từ 8-10% với nhu cầu tiêu thụ thép trong nước ước đạt
khoảng 26 triệu tấn.
Theo BCT
