Tăng trưởng GDP của Việt Nam đã
tăng lên 7,5% so với cùng kỳ năm trước trong sáu tháng đầu năm 2025, từ mức
6,5% trong nửa đầu năm 2024, nhờ vào việc đẩy mạnh xuất khẩu trong bối cảnh bất
ổn chính sách thương mại. Động lực này được thúc đẩy bởi mức tăng trưởng xuất
khẩu 14,2% trong sáu tháng đầu năm 2025, bao gồm mức tăng 28,3% trong xuất khẩu
sang Hoa Kỳ trước khi có khả năng tăng thuế. Nhập khẩu cũng tăng tốc lên 16%
trong nửa đầu năm do các đơn đặt hàng mua tăng trong giai đoạn xuất khẩu đẩy mạnh
này.
Sau đà tăng trưởng mạnh mẽ trong nửa đầu năm, nền kinh tế Việt Nam dự kiến sẽ chững lại trong thời gian còn lại của năm khi tăng trưởng xuất khẩu chung trở lại bình thường. Dự báo cơ sở của Ngân hàng Thế giới giả định đóng góp của xuất khẩu ròng vào tăng trưởng GDP giảm. Tuy nhiên, triển vọng vẫn phụ thuộc rất nhiều vào các diễn biến thương mại tiếp theo. Tăng trưởng GDP dự kiến sẽ giảm xuống còn 6,1% vào năm 2026 do tác động của thương mại toàn cầu chậm lại. Sau đó, dự kiến tốc độ tăng trưởng sẽ phục hồi lên 6,5% vào năm 2027, nhờ sự phục hồi của thương mại toàn cầu và sức hấp dẫn liên tục của Việt Nam với tư cách là cơ sở công nghiệp cạnh tranh trong chuỗi cung ứng toàn cầu.

Báo cáo chỉ ra rằng hoạt động
kinh tế toàn cầu dự kiến sẽ giảm tốc trong giai đoạn 2025-2026, lần lượt xuống
còn 2,3% và 2,4% (-0,4 điểm phần trăm và -0,3 điểm phần trăm so với dự báo
tháng 1 năm 2025). Điều này liên quan đến tăng trưởng thương mại toàn cầu yếu
và căng thẳng địa chính trị kéo dài. Tăng trưởng tại các đối tác thương mại lớn
nhất của Việt Nam, Hoa Kỳ và Trung Quốc, dự kiến sẽ chậm lại trong nửa cuối
năm 2025, tiếp tục hạn chế nhu cầu bên ngoài đối với các sản phẩm của Việt Nam.
Sự bất ổn gia tăng trong chính
sách thương mại cũng được dự báo sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến niềm tin của nhà đầu
tư và người tiêu dùng. Các nền kinh tế định hướng xuất khẩu, chẳng hạn như Việt
Nam, đặc biệt bị ảnh hưởng bởi những diễn biến này.
Theo Ngân hàng Thế giới, các
chính sách hỗ trợ tăng trưởng và phòng ngừa bất ổn bên ngoài nên tập trung vào
việc mở rộng đầu tư công, giảm thiểu rủi ro khu vực tài chính và cải cách cơ cấu.
Chính sách tài khóa nên tiếp tục đóng vai trò chủ đạo trong việc hỗ trợ tăng
trưởng và khả năng phục hồi trung hạn, do dư địa chính sách tiền tệ hạn chế do
chênh lệch lãi suất và áp lực tỷ giá hối đoái dai dẳng. Nợ công thấp của Việt
Nam cho phép tăng cường đầu tư, đặc biệt là để thu hẹp khoảng cách về cơ sở hạ
tầng trong lĩnh vực năng lượng, hậu cần và vận tải, với trọng tâm là quản lý đầu
tư công hiệu quả và giám sát nợ và rủi ro thận trọng.
Việc củng cố sự ổn định của khu vực
tài chính vẫn là yếu tố then chốt. Điều này có thể đạt được bằng cách yêu cầu cải
thiện mức độ an toàn vốn, tăng cường giám sát thận trọng và trao quyền pháp lý
mạnh mẽ hơn cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, đặc biệt là về giám sát tập đoàn
và quản lý khủng hoảng.
Những cải cách này cũng bao gồm
việc đẩy nhanh cải cách cơ cấu nhằm cải thiện các dịch vụ xương sống, thúc đẩy
tăng trưởng xanh, xây dựng nguồn nhân lực và đa dạng hóa thương mại để giúp giảm
thiểu rủi ro toàn cầu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững, dài hạn. Việc
tích hợp sâu hơn các doanh nghiệp tư nhân trong nước vào chuỗi cung ứng toàn cầu
và khuyến khích áp dụng công nghệ sẽ hỗ trợ hơn nữa sự phát triển của khu vực
tư nhân.
tttbktbđt
