Ưu đãi thuế đi cùng cơ chế bảo đảm thị trường

Gần 828 nghìn tỷ đồng dư nợ tín dụng xanh, 82 tổ chức tín dụng tham gia cho vay xanh và các dự án nhiên liệu sinh học đang được xếp vào nhóm hưởng ưu đãi đầu tư cao nhất là những nền tảng tài chính đáng chú ý cho quá trình phát triển nhiên liệu sinh học tại Việt Nam hiện nay.

Thông tin trên được các diễn giả đưa ra tại Diễn đàn Phát triển nhiên liệu sinh học 2026 với chủ đề “Từ chủ trương của Đảng đến hành động quốc gia” do Báo Điện tử Tiếng nói Việt Nam phối hợp với Cục Đổi mới sáng tạo, chuyển đổi xanh và khuyến công (Bộ Công Thương) tổ chức mới đây.

Tại Diễn đàn, các chuyên gia tập trung phân tích cơ chế tài chính, chính sách thuế, phí và đầu tư nhằm thúc đẩy lĩnh vực nhiên liệu sinh học trong giai đoạn mới. Theo ThS. Lưu Ánh Nguyệt, Phó trưởng ban, Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính (Bộ Tài chính), xét trong hệ thống chính sách hiện hành, các dự án nhiên liệu sinh học đang thuộc nhóm dự án được hưởng mức ưu đãi đầu tư cao nhất.

Các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực này có thể được hưởng nhiều chính sách ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và các chính sách hỗ trợ đầu tư xanh.

Đối với máy móc, thiết bị nhập khẩu phục vụ sản xuất, doanh nghiệp có thể được miễn thuế nhập khẩu theo quy định hiện hành. Nhiều dự án còn được miễn thuế trong những năm đầu hoạt động và được giảm thuế ở các năm tiếp theo theo khung ưu đãi dành cho dự án đầu tư xanh.

Theo phân tích nhóm nghiên cứu Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế - tài chính, nền tảng chính sách cho tài chính xanh tại Việt Nam đã từng bước được hình thành thông qua hệ thống tín dụng xanh, trái phiếu xanh, cơ chế quản lý rủi ro môi trường - xã hội và Danh mục phân loại xanh quốc gia. Các dự án nhiên liệu sinh học nếu đáp ứng tiêu chí môi trường có thể tiếp cận những nguồn vốn này.

Đáng chú ý, tín dụng xanh đang trở thành kênh huy động vốn chủ lực cho các dự án xanh. Dư nợ tín dụng xanh của Việt Nam đã tăng từ hơn 180 nghìn tỷ đồng năm 2017 lên hơn 779 nghìn tỷ đồng vào năm 2025 và đạt gần 828 nghìn tỷ đồng trong quý I/2026. Đến đầu năm 2026, đã có 82 tổ chức tín dụng phát sinh dư nợ tín dụng xanh.

Bên cạnh tín dụng xanh, thị trường trái phiếu xanh cũng đang phát triển theo hướng tăng chất lượng và minh bạch. Năm 2025, tổng giá trị phát hành trái phiếu xanh đạt 3.407 tỷ đồng. Toàn bộ các đợt phát hành thành công đều được đánh giá độc lập trước khi phát hành nhằm xác nhận mức độ đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế về tài chính xanh.

Theo các chuyên gia, đặc thù của ngành nhiên liệu sinh học là chuỗi giá trị kéo dài từ vùng nguyên liệu, thu gom sinh khối, logistics, sản xuất, pha trộn đến phân phối và tiêu thụ. Dòng tiền của dự án chịu tác động đồng thời từ giá nông sản, giá xăng dầu, chính sách pha trộn, tiêu chuẩn kỹ thuật và khả năng tiêu thụ sản phẩm. Vì vậy, chính sách tài chính không chỉ dừng ở việc cung cấp vốn mà còn phải đóng vai trò chia sẻ rủi ro và tạo tín hiệu thị trường dài hạn cho nhà đầu tư.

Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, các quốc gia phát triển nhiên liệu sinh học thành công đều sử dụng đồng thời nhiều công cụ chính sách. Tại Brazil, doanh nghiệp sản xuất nhiên liệu sinh học được hưởng nhiều ưu đãi thuế và được tiếp cận nguồn tín dụng ưu đãi từ Ngân hàng Phát triển Kinh tế và Xã hội Quốc gia Brazil. Indonesia xây dựng quỹ hỗ trợ biodiesel từ nguồn thu thuế xuất khẩu dầu cọ.

Trong khi đó, Liên minh châu Âu kết hợp chính sách tạo cầu, ưu đãi tài chính và cơ chế định giá carbon để thúc đẩy phát triển nhiên liệu sinh học, đặc biệt là nhiên liệu hàng không bền vững.


Diễn đàn Phát triển nhiên liệu sinh học 2026 với chủ đề “Từ chủ trương của Đảng đến hành động quốc gia” được tổ chức ngày 17/6/2026.

Gắn ưu đãi thuế, phí với kết quả giảm phát thải

Theo các chuyên gia, điểm chung của những mô hình thành công là chính sách tài chính được thiết kế theo toàn bộ chuỗi giá trị thay vì chỉ tập trung vào khâu sản xuất. Các công cụ như tín dụng ưu đãi, ưu đãi thuế, quỹ hỗ trợ, trái phiếu xanh, tín chỉ carbon hay cơ chế bảo đảm đầu ra được triển khai đồng bộ nhằm giảm chi phí vốn và hạn chế rủi ro cho nhà đầu tư.

Tại Việt Nam, việc đưa xăng sinh học E10 vào sử dụng trên phạm vi toàn quốc từ ngày 1/6/2026 được xem là bước chuyển quan trọng trong lộ trình phát triển nhiên liệu sinh học. Theo đánh giá của các chuyên gia, chính sách này sẽ tạo tín hiệu thị trường rõ ràng hơn, qua đó thúc đẩy đầu tư vào sản xuất ethanol, hạ tầng pha trộn, lưu trữ, vận chuyển và phân phối nhiên liệu sinh học.

Tuy nhiên, nhiều ý kiến cho rằng quá trình triển khai cần đi kèm với việc cung cấp đầy đủ thông tin khoa học để tạo sự đồng thuận trong xã hội. Ông Phan Thanh Uy, Phó Chủ tịch, Tổng Thư ký, Chủ tịch Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam cho biết, sau hơn hai tuần triển khai xăng E10, Hiệp hội đã nhận được nhiều ý kiến từ doanh nghiệp vận tải và người dân.

Theo ông Uy, các cơ quan quản lý cần làm rõ nhiều vấn đề đang được quan tâm như tỷ lệ nguyên liệu sản xuất trong nước và nhập khẩu; hiệu quả kinh tế của xăng E10 so với các loại xăng trước đây; mức tiêu hao nhiên liệu; khả năng giảm phát thải khí nhà kính và tác động tới động cơ phương tiện.

Đại diện Hiệp hội Vận tải ô tô Việt Nam cũng đề xuất nghiên cứu phương án duy trì song song xăng E5 và E10 trong một giai đoạn chuyển tiếp nhằm tạo điều kiện cho người dân thích nghi, đặc biệt với nhóm đang sử dụng phương tiện đã qua nhiều năm sử dụng.

Trong giai đoạn tới, để thị trường nhiên liệu sinh học phát triển hiệu quả, nhiều chuyên gia cũng cho rằng, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế tín dụng theo chuỗi giá trị, mở rộng tài chính hỗn hợp, xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro cho các dự án công nghệ mới và gắn các ưu đãi thuế, phí, hỗ trợ đầu tư với kết quả giảm phát thải thực tế.

Việc xây dựng cơ sở dữ liệu phát thải vòng đời, hoàn thiện hệ thống tiêu chí xanh, chuẩn hóa phương pháp đo lường phát thải và từng bước kết nối với thị trường carbon sẽ là nền tảng quan trọng để các dự án nhiên liệu sinh học tiếp cận hiệu quả hơn các nguồn vốn xanh trong thời gian tới. Qua đó, chính sách phát triển nhiên liệu sinh học không chỉ dừng ở mục tiêu phối trộn nhiên liệu mà còn hướng tới hình thành một hệ sinh thái đầu tư xanh, gắn với tăng trưởng xanh, kinh tế tuần hoàn và chuyển dịch năng lượng.

TCKTTC