41 văn bia Phố Hiến và 43 bản ma nhai trên núi Non Nước vừa được Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực châu Á-Thái Bình Dương của UNESCO (MOWCAP) ghi danh vào Danh mục Di sản tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Với việc có thêm 2 Di sản tư liệu được UNESCO ghi danh, đến nay Việt Nam đã có 13 Di sản tư liệu được UNESCO ghi danh (gồm 4 Di sản tư liệu trong Danh mục thế giới và 9 Di sản tư liệu trong Danh mục khu vực châu Á-Thái Bình Dương).
Vào lúc 15h20 ngày 5/11/2026 (giờ Việt Nam), tại Kỳ họp lần
thứ 11 diễn ra ở Jakarta (Indonesia), Ủy ban Chương trình Ký ức thế giới khu vực
châu Á-Thái Bình Dương của UNESCO (MOWCAP) đã thông qua hai hồ sơ "Văn bia
Phố Hiến," tỉnh Hưng Yên và "Ma nhai trên núi Non Nước," tỉnh
Ninh Bình.
41 văn bia Phố Hiến và 43 bản ma nhai trên núi Non Nước vừa
được UNESCO ghi danh, bổ sung những tư liệu có giá trị về lịch sử, giao lưu văn
hóa và đời sống xã hội Việt Nam trong dòng chảy khu vực.
"Văn bia Phố Hiến" - dấu ấn giao thương quốc tế
"Văn bia Phố Hiến", tỉnh Hưng Yên bao gồm 41
văn bia chữ Hán và chữ Nôm (niên đại từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX), nằm tại các
di tích thuộc di tích quốc gia đặc biệt Phố Hiến (tỉnh Hưng Yên). Đây là di sản
tư liệu mang tính toàn vẹn và xác thực, đã được cộng đồng gìn giữ nguyên trạng
qua nhiều thế kỷ và là ký ức sống động về một thời kỳ lịch sử của Phố Hiến - một
thương cảng quốc tế tiêu biểu ở châu Á thời bấy giờ.
Phố Hiến hình thành và phát triển từ thế kỷ XVI, đạt đến
thời kỳ cực thịnh trong thế kỷ XVII, trở thành một trong những trung tâm văn
hóa-thương mại lớn ở Việt Nam và là trung tâm giao thương của khu vực Đông Nam
Á và Đông Á, gắn với xuất hiện của các phường thị qua các giai đoạn lịch sử,
thu hút nhiều thương nhân nước ngoài như: người Hoa, người Nhật và từ nửa cuối
thế kỷ XVII, có sự hiện diện của người Hà Lan, người Bồ Đào Nha và người Anh.

Một Văn bia Phố Hiến tại Văn Miếu Xích Đằng. Ảnh: Phạm
Kiên TTXVN
Ngoài việc phản ánh quá trình phát triển đô thị và hoạt động
thương mại, Văn bia Phố Hiến còn phản ánh quá trình giao lưu và tiếp biến văn
hóa, sự phát triển hòa hợp và sự giao thoa tôn giáo, tín ngưỡng trong đời sống
văn hóa, xã hội của các cộng đồng cư dân người Việt và người nước ngoài tại một
đô thị cảng quốc tế từ thế kỷ XVII-XX, biểu thị cho tinh thần và truyền thống
hiếu học của người Hưng Yên được thể hiện qua 9 tấm bia tại Văn Miếu Xích Đằng,
đồng thời ghi chép sự chủ động đóng góp của nữ giới trong đời sống tinh thần,
tín ngưỡng Phố Hiến. Đây là nguồn cứ liệu quan trọng cho các nhà nghiên cứu
trong nước và quốc tế khi đề cập đến vấn đề ngoại giao văn hóa kinh tế và giao
lưu hàng hải khu vực châu Á-Thái Bình Dương nói chung và thương cảng Phố Hiến
nói riêng.
"Ma nhai trên núi Non Nước" (Ninh Bình) - kho
báu ký ức được lưu giữ trên đá
Ma nhai trên núi Non Nước thuộc Di tích quốc gia đặc biệt
núi Non Nước, tỉnh Ninh Bình, gồm 43 bản văn khắc hiện còn, sử dụng chữ Hán, chữ
Nôm và chữ Quốc ngữ, có niên đại từ thế kỷ XIV đến thế kỷ XX. Các văn bản được
khắc trực tiếp trên vách đá, với nhiều thể loại, như: ngự bút, bia ký, thơ văn,
đề từ… do các vị vua, quan, danh nhân, nhà văn hóa, nhà thơ lưu lại.
Được thực hiện bằng kỹ thuật điêu khắc đá truyền thống,
các bản ma nhai có hình thức độc đáo, nội dung đa dạng và giá trị tư liệu không
thể thay thế. Những văn khắc cung cấp thông tin về lịch sử dựng nước, giữ nước
của Việt Nam; đồng thời phản ánh quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa ở Đông
Á, trong đó có sự giao thoa giữa Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo và tín ngưỡng bản
địa Việt Nam.
Các bản khắc còn góp phần làm rõ lịch sử văn học Việt Nam
thời trung đại trong dòng chảy văn học chữ Hán ở Đông Á. Đáng chú ý, nội dung một
số văn bản cho thấy sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động xã hội, tôn giáo
qua nhiều giai đoạn lịch sử, cung cấp thêm cứ liệu về vị trí, vai trò của nữ giới
trong đời sống xã hội Việt Nam từ thời trung đại.

Bia Ma nhai trên Núi non nước. Ảnh Đức Phương- TTXVN
Với việc có thêm 2 Di sản tư liệu được Ủy ban Chương
trình Ký ức thế giới của UNESCO ghi danh, đến nay Việt Nam đã có 13 Di sản tư
liệu được UNESCO ghi danh. Kết quả này góp phần thực hiện mục tiêu tại Nghị quyết
số 80-NQ/TW ngày 7/1/2026 của Bộ Chính trị về phát triển di sản văn hóa Việt
Nam, phấn đấu có thêm 5 di sản văn hóa được UNESCO công nhận, ghi danh vào năm
2030 và 10 di sản vào năm 2045.
Trước đó, 11 Di sản
tư liệu đã được UNESCO ghi danh (4 Di sản Tư liệu Thế giới, 7 Di sản Tư liệu
khu vực châu Á-Thái Bình Dương), bao gồm
1. Mộc bản triều Nguyễn (Di sản Tư liệu Thế giới năm
2009)
Được công nhận năm 2009, Mộc bản triều Nguyễn là Di sản
Tư liệu Thế giới đầu tiên của Việt Nam được UNESCO công nhận, gồm 34.555 tấm mộc
bản, là "chế bản" của 152 đầu sách với nhiều chủ đề khác nhau, như: lịch
sử, địa lý, chính trị-xã hội, quân sự, pháp chế, giáo dục, văn thơ... Nội dung
của khối tài liệu Mộc bản Triều Nguyễn rất phong phú và đa dạng, phản ánh mọi mặt
xã hội Việt Nam trong thời kỳ phong kiến, như: lịch sử, địa lý, chính trị-xã hội,
quân sự, pháp chế, văn hóa-giáo dục, tôn giáo-tư tưởng-triết học, văn thơ, ngôn
ngữ-văn tự.
2. Bia Tiến sĩ tại Văn Miếu-Quốc Tử Giám (Di sản Tư liệu
Thế giới năm 2011)
82 bia tiến sĩ tương ứng với 82 khoa thi (từ năm
1484-1780), ghi tên các vị đỗ đại khoa tại các khoa thi, là những bản tư liệu gốc
duy nhất còn lại, được coi là một trong những di sản văn hóa vô giá của cha ông
để lại cho chúng ta ngày nay. Chúng là những tư liệu chân thực phản ánh bức
tranh sinh động về chế độ đào tạo và tuyển dụng nhân tài ở Việt Nam kéo dài hơn
300 năm dưới thời Lê-Mạc, đồng thời là những tác phẩm nghệ thuật độc đáo, phản
ánh nghệ thuật điêu khắc của nhiều triều đại phong kiến Việt Nam. Mỗi bài ký
trên bia là một áng văn chương mẫu mực, thể hiện tư tưởng triết học, sử học, những
quan điểm về giáo dục, đào tạo và trọng dụng nhân tài của các triều đại trong lịch
sử.
3. Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm (Bắc Ninh) (Di sản Tư liệu
khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2012)
Bộ 3.050 mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm được UNESCO công nhận là Di sản Tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2012. Đây là bộ tư liệu bằng chữ Hán và chữ Nôm, gồm 3.050 đơn vị ván khắc, trong đó có 2 bộ kinh phật và luật sa di giới, luận bàn, giải thích về kinh phật và trước tác của Phật hoàng Trần Nhân Tông cùng các vị cao tăng thiền phái Trúc Lâm. Giá trị đặc biệt của các mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm ở chỗ tư tưởng, giáo lý của Thiền viện Trúc Lâm được lưu khắc hết sức rõ nét và mang đậm bản sắc dân tộc cùng những giá trị nhân văn sâu sắc được thể hiện công phu trên mỗi mộc bản.

Nội dung trong Mộc bản chùa Vĩnh Nghiêm phản ánh không chỉ kinh điển Phật giáo, mà còn chứa đựng tri thức về y học, văn học và đời sống xã hội qua nhiều thế kỷ. Ảnh: Danh Lam - TTXVN
4. Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (Di sản Tư liệu
khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2016)
Hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế gồm 2.742 ô
thơ tinh tuyển từ vô số các trước tác của các vị hoàng đế triều Nguyễn, bắt đầu
được sử dụng để trang trí trên cung điện, đền miếu, lăng tẩm hoàng gia từ thời
Minh Mạng (1820-1841) đến thời Khải Định (1916-1925). Ngoài số lượng đồ sộ, ở
đây còn có tính điển hình về phong cách trang trí "nhất thi nhất họa".
Theo nhiều nghiên cứu, hệ thống thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế là một nghệ
thuật trang trí đặc biệt, là di sản quý, không thấy xuất hiện ở bất kỳ nơi nào
khác trên thế giới.

Thơ văn bằng chữ Hán được khắc trong Điện Thái Hòa - Đại
Nội Huế. Ảnh: Nguyên Lý - TTXVN
5. Mộc bản trường học Phúc Giang (Di sản Tư liệu khu vực
châu Á-Thái Bình Dương năm 2016)
Đây là khối mộc bản duy nhất, cổ nhất về giáo dục của một
dòng họ còn lưu giữ được ở Việt Nam từ thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XX, tại trường
học Phúc Giang, xã Trường Lưu, tỉnh Hà Tĩnh.
Khối mộc bản được khắc chữ Hán ngược để in 3 tập sách
giáo khoa kinh điển (gồm 12 quyển): "Tính lý toản yếu đại toàn",
"Ngũ kinh toản yếu đại toàn" và "Thư viện quy lệ", được sử
dụng liên tục cho việc dạy và học của hàng nghìn thầy giáo và học sinh qua gần
3 thế kỷ (từ thế kỷ XVIII-XX). Mộc bản trường học Phúc Giang là tập tư liệu gốc,
duy nhất do các danh nhân dòng họ Nguyễn Huy cùng đội ngũ thợ khắc tạo ra từ giữa
thế kỷ 18.
6. Châu bản triều Nguyễn (Di sản Tư liệu Thế giới năm
2017)
Châu bản triều Nguyễn là các tài liệu hành chính của triều
Nguyễn - triều đại cuối cùng trong lịch sử phong kiến Việt Nam (1802-1945), bao
gồm: văn bản của các cơ quan trong bộ máy chính quyền trung ương và địa phương
trình lên nhà vua phê duyệt, văn bản của các vua triều Nguyễn ban hành và một số
văn kiện ngoại giao. Đây là khối tài liệu hành chính duy nhất còn lưu giữ được
của một vương triều phong kiến Việt Nam, lưu giữ bút tích của các vua triều
Nguyễn phê duyệt các vấn đề của đất nước.
7. Hoàng hoa sứ trình đồ (Di sản Tư liệu khu vực châu
Á-Thái Bình Dương năm 2018)
"Hoàng Hoa sứ trình đồ" là cuốn sách cổ, miêu tả
về việc đi sứ của sứ bộ Việt Nam sang Trung Hoa trong thế kỷ thứ XVIII, thể hiện
việc giao lưu giữa các quốc gia ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương. "Hoàng
Hoa sứ trình đồ" được UNESCO đánh giá là một hồ sơ quý, hiếm nói về quan hệ
ngoại giao giữa hai nước trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đóng góp vào việc
duy trì nền hòa bình giữa các dân tộc trong khu vực và trên thế giới.
Cuốn sách "Hoàng Hoa sứ trình đồ" được Nguyễn
Huy Triển sao lại năm 1887 từ bản gốc của Thám hoa Nguyễn Huy Oánh, hiện đang
được dòng họ Nguyễn Huy-Trường Lưu, tỉnh Hà Tĩnh lưu giữ. Cuốn sách có kích thước
30cm x 20cm, dày 2cm được in trên bản mộc giấy dó.
8. Bia ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng (Di sản
Tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2022)
78 bia ma nhai tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, Đà Nẵng, là
kho tàng di sản tư liệu quý giá bằng chữ Hán và chữ Nôm, với nội dung, phong
cách biểu hiện đa dạng, hình thức độc đáo, nhiều thể loại, như: ngự bút, bia
ký, tán, thơ văn, đề từ, đề danh, câu đối… của các vị vua, quan triều Nguyễn,
cao tăng, cùng nhiều thế hệ tao nhân, mặc khách đã từng dừng chân lưu đề trên
vách đá, hang động tại danh thắng Ngũ Hành Sơn, từ nửa đầu thế kỷ XVII đến thập
niên 60 của thế kỷ XX.
Bia ma nhai là những tư liệu vô cùng giá trị, chân xác và
đặc sắc, thể hiện rõ tính giao thoa, hòa điệu về kinh tế, văn hóa, xã hội giữa
các quốc gia như Nhật Bản-Trung Hoa-Việt Nam tại Việt Nam từ thế kỷ XVII-XX.

Ma nhai núi Ngũ Hành Sơn. Ảnh: Trần Lê Lâm – TTXVN
9. Văn bản Hán Nôm làng Trường Lưu, Hà Tĩnh (Di sản Tư liệu
khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2022)
"Văn bản Hán Nôm làng Trường Lưu, Hà Tĩnh
(1689-1943)" là bộ sưu tập độc bản được viết bằng tay, gồm 26 sắc phong gốc
do các vua triều Lê, Nguyễn ban tặng; 19 tờ văn bằng, 3 bức trướng bằng lụa, viết
bằng chữ Hán, chữ Nôm từ năm 1689 đến năm 1943. Văn bản có giá trị nguyên gốc,
độc bản, nguồn gốc rõ ràng và các sự kiện liên quan… đã từng làm nguồn tư liệu
để biên soạn sách, nhiều thông tin có thể kiểm chứng, đối chiếu qua các tài liệu
chính sử của Việt Nam, giúp nghiên cứu quan hệ xã hội, lịch sử phát triển của
làng thời xưa, đặc biệt trong giai đoạn từ cuối thế kỷ XVII đến giữa thế kỷ XX.
10. Những bản đúc nổi trên chín đỉnh đồng ở Hoàng cung Huế
(Di sản Tư liệu khu vực châu Á-Thái Bình Dương năm 2024)
Những bản đúc nổi trên chín đỉnh đồng ở Hoàng cung Huế là
dương bản duy nhất, hiện đặt trước sân Thế Tổ Miếu trong Hoàng cung Huế, gồm
162 hình ảnh và chữ Hán được vua Minh Mạng cho đúc tại Huế vào năm 1835 và hoàn
thành năm 1837. Đây là nguồn tư liệu độc đáo, quý hiếm được giới nghiên cứu Việt
Nam và nước ngoài rất quan tâm bởi nó mang giá trị nội dung về lịch sử, văn
hóa-giáo dục, địa lý, phong thủy, y dược, nghệ thuật thư pháp.
Đáng lưu ý nhất là nghệ thuật đúc đồng và kỹ thuật của
người thợ để tạo nên tác phẩm đặc sắc, độc đáo. Các bản đúc nổi trên chín đỉnh
đồng đảm bảo tính nguyên vẹn, là "nhân chứng" lịch sử chứng kiến sự
thăng trầm của triều đại và điều quan trọng nhất là di sản tư liệu này được thể
hiện dưới dạng hình ảnh và chữ Hán vẫn còn nguyên vẹn và ngay cả vị trí đặt
chín chiếc đỉnh cũng chưa từng bị dịch chuyển.
TTVH
