35 năm - 263 mỏ lớn
Báo cáo thường niên của S&P Global Energy năm 2026
đã xác định 263 mỏ đồng lớn được phát hiện từ năm 1990 - 2025, chứa tổng cộng
1,402 tỷ tấn đồng bao gồm trữ lượng, tài nguyên và sản lượng trong quá khứ. So
với đánh giá năm 2025, tập dữ liệu này chỉ tăng thêm 5 mỏ và 37 triệu tấn,
tương đương 3%. Hầu hết sự gia tăng này đến từ việc mở rộng các mỏ hiện có thay
vì các phát hiện mới, cho thấy ngành công nghiệp vẫn đang tập trung nỗ lực mở rộng
trong bối cảnh thâm hụt nguồn cung đồng đang rình rập.

Nguồn: Dữ liệu S&P Global Energy
Tiền thăm dò chảy ngược về các mỏ cũ
Tốc độ và quy mô của các phát hiện mỏ đồng lớn mới vẫn
ở mức thấp so với những thập kỷ trước. Việc phân chia dữ liệu theo thập kỷ cho
thấy một sự suy giảm rõ rệt giữa các giai đoạn. Trong đó, tổng lượng đồng được
phát hiện sau năm 2000 vẫn thấp hơn tổng khối lượng được phát hiện chỉ trong những
năm 1990. Đồng ngày càng trở nên có tính chiến lược đối với nền kinh tế toàn cầu,
nhưng các phát hiện lớn lại không theo kịp. Lời giải thích nằm ở chiến lược của
ngành và yếu tố địa chất.
Kể từ đầu những năm 2000, các công ty khai thác đã
ngày càng chuyển hướng ngân sách thăm dò sang các hoạt động tại những mỏ hiện
có, nơi mà cơ sở hạ tầng, lộ trình cấp phép và sự hiểu biết về địa chất giúp giảm
thiểu rủi ro và rút ngắn thời gian phát triển.
Năm 2025, các chương trình tại mỏ hiện hữu chiếm 43%
ngân sách thăm dò đồng toàn cầu, so với 25% dành cho thăm dò mới. Hơn 60% lượng
đồng phát hiện tăng thêm mỗi năm đến từ các mỏ khai thác hiện có, thay vì các hệ
thống mới. Dù chiến lược này tạo ra giá trị trong ngắn hạn, nhưng lại mang nguy
cơ làm suy yếu nguồn dự án dài hạn.
Thách thức không chỉ dừng lại ở chiến lược thăm dò.
Nhiều mỏ dễ tiếp cận đã được tìm thấy, buộc các nhà thăm dò phải nhắm mục tiêu
vào các hệ thống sâu hơn và phức tạp hơn, thường đòi hỏi cơ sở hạ tầng hoặc nỗ
lực xin phép đáng kể. Độ sâu để khoan đồng trung bình đã tăng gần 50% kể từ năm
2010 lên khoảng 600 mét, trong khi chất lượng quặng nhìn chung đã giảm sút. Các
quy trình cấp phép kéo dài và phức tạp góp phần làm trì hoãn thời gian đưa mỏ
vào hoạt động, với khoảng thời gian trung bình từ lúc phát hiện đến khi đi vào
sản xuất là 17,5 năm theo nghiên cứu mới nhất của S&P. Những chương trình
khoan sâu hơn, tốn kém hơn này đã dẫn đến hiệu quả thu về trên mỗi USD đầu tư
thấp hơn so với hai thập kỷ trước, cộng thêm lạm phát càng làm xói mòn sức mua.
Thách thức của ngành là một vấn đề kép - tìm thêm đồng
và thực hiện điều đó trong những môi trường ngày càng đắt đỏ và đòi hỏi khắt
khe về mặt kỹ thuật.
Những vùng đất mới
Sự phân bổ địa lý của các phát hiện lớn vẫn tương tự
như kết quả của năm 2025. Mỹ Latin vẫn là khu vực phát hiện thống trị, chiếm
773 triệu tấn đồng (55% tổng số). Khu vực này là nơi có hai mỏ được phát hiện lớn
nhất - Collahuasi và Los Bronces Underground (Los Sulfatos) - cả hai đều nằm ở
Chile, quốc gia hàng đầu về thăm dò và sản xuất đồng toàn cầu. Châu Á - Thái
Bình Dương đứng thứ hai với 295 triệu tấn (chiếm 21%), với hơn 2/3 khối lượng
này được tìm thấy tại các mỏ hiện có, bao gồm ba mỏ lớn nhất là Qulong ở Trung
Quốc, Grasberg (Kucing Liar) ở Indonesia và Oyu Tolgoi (Hugo Dummett) ở Mông Cổ.
Khu vực Mỹ - Canada có dự án Pebble ở Alaska và Resolution ở Arizona - đứng thứ
ba với 139 triệu tấn (chiếm 10%).

Phân bổ trữ lượng, tài nguyên và sản lượng đã khai
thác tại 263 mỏ đồng lớn phát hiện giai đoạn 1990-2025.
Nguồn: tổng hợp từ S&P Global
Bên cạnh các vùng mỏ truyền thống, vài quốc gia đang nổi
lên thành điểm đến mới. Argentina là một ví dụ đáng chú ý, ngân sách thăm dò cơ
sở đổ vào Argentina đã tăng hơn ba lần lên mức 66 triệu USD vào năm 2025 (từ 18
triệu USD năm 2024), được thúc đẩy bởi công ty khai phá quy mô nhỏ NGEx
Minerals Ltd tại dự án Lunahuasi của họ. Các nhà thám hiểm tiếp tục đẩy mạnh
các dự án tại vùng Vicuña của quốc gia này, nơi có các phát hiện lớn như Filo
del Sol (2000) và Josemaria (2003). Tỷ lệ các mũi khoan mang lại kết quả khả
quan đối với quặng đồng tại Argentina đạt 33% trong khoảng thời gian từ tháng
1/2021 - tháng 7/2026, vượt trội so với một số khu vực lâu năm như Australia
(20%) và Mỹ (27%). Việc áp dụng các khuôn khổ chính sách ủng hộ thị trường cũng
đã củng cố sức hấp dẫn của Argentina như một điểm đến cho các chương trình thăm
dò dài hạn.
Trên khắp châu Phi, hoạt động thăm dò cơ sở đang mở rộng
ở Zambia và Botswana, được hỗ trợ bởi các công ty lớn và các tổ chức tư nhân, một
số trong đó đang liên danh hoặc hợp tác với các công ty nhỏ hơn. Rio Tinto
Group là công ty thăm dò đồng cơ sở lớn nhất ở Zambia, trong khi BHP Group Ltd.
cam kết chi 25 triệu USD vào thỏa thuận chia sẻ lợi nhuận kéo dài nhiều năm với
Cobre Ltd., nhắm vào dự án Kitlanya East thuộc Vành đai Đồng Kalahari của
Botswana. Tại Cộng hòa Dân chủ Congo (DRC), các mỏ thuộc Western Foreland của
Ivanhoe Mines Ltd. vẫn là phát hiện lớn duy nhất kể từ năm 2023.
Phát hiện mới là chưa đủ: Thách thức từ các dự án đình
trệ
Dù các vùng đất mới đang mở ra nhiều kỳ vọng nhưng
thách thức về nguồn cung ngắn hạn và trung hạn ngày càng cấp bách hơn. S&P
Global dự báo thị trường tinh quặng đồng sẽ thiếu hụt trong giai đoạn
2026-2027, hồi phục ngắn rồi kéo dài tình trạng thiếu qua phần lớn thập niên
2030.
Tuy nhiên, danh mục dự án của ngành đồng vẫn còn bị bó
hẹp. Không có mỏ đồng lớn nào với trữ lượng và tài nguyên xác định đáp ứng ngưỡng
của S&P được phát hiện vào năm 2025. Tiến độ đưa các dự án cũ vào hoạt động
cũng rất chậm khi 165 trên tổng số 263 mỏ phát hiện lớn trong danh sách vẫn
chưa đi vào sản xuất (trong đó 135 dự án chưa xong nghiên cứu khả thi, và chỉ vỏn
vẹn 17 dự án bước sang giai đoạn xây dựng). Dù các phát hiện mỏ hoàn toàn mới
đang rất khan hiếm, tổng lượng đồng chứa trong quặng (hoặc lượng đồng quy đổi)
vẫn có xu hướng tăng lên theo thời gian. Nguyên nhân là do các công ty tiếp tục
đổ tiền khoan mở rộng và nghiên cứu sâu hơn tại chính những khu vực mỏ đã được
phát hiện từ trước.
Để khơi thông nguồn cung mới, các dự án cần tiến triển
hiệu quả qua các khâu xin giấy phép, tài trợ vốn, phát triển cơ sở hạ tầng và
xây dựng, đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ giữa các chính phủ, nhà đầu tư và ngành
công nghiệp. Tầm ảnh hưởng của các công ty khai thác mỏ lớn và các chính phủ đã
thể hiện rõ trong xu hướng thăm dò hiện tại và sẽ tiếp tục đóng vai trò trọng yếu
trong việc định hình nguồn cung tương lai.
Khi nhu cầu đồng tăng lên, ngành công nghiệp phải cân
bằng giữa lợi ích ngắn hạn của việc mở rộng các mỏ hiện có với việc bổ sung nguồn
cung dài hạn thông qua các phát hiện mới. Suy cho cùng, tương lai của nguồn
cung đồng sẽ được định hình không chỉ bởi yếu tố địa chất, mà còn bởi các quyết
định chiến lược về đầu tư, chính sách và phát triển dự án. Những mỏ quặng cần
thiết để hỗ trợ một thế giới ngày càng điện khí hóa có thể đã tồn tại, nhưng
giá trị của chúng sẽ chỉ được hiện thực hóa nếu được đưa vào sản xuất kịp thời
nhằm đáp ứng nhu cầu đang ngày một tăng cao.
VNB
